Mùa thu hương cốm mới
Sang thu, tiết trời dịu nhẹ, bầu trời trong xanh, nắng vàng như rót mật cũng là lúc những cánh đồng lúa nếp ở các bản làng vùng cao của Thái Nguyên ngậm sữa, chuẩn bị cho những mẻ cốm thơm lựng, ngọt bùi. Dù không có truyền thống lâu đời như ở Ngân Sơn, Bằng Vân, Phủ Thông… nhưng hương cốm ở Hợp Thành, Đức Lương đã bay xa và được người tiêu dùng yêu mến, ưa chuộng.

Mỗi độ Thu về, người Hợp Thành lại ra đồng thật sớm để thu hoạch lúa non mang về nhà làm ra những mẻ cốm thơm ngon.
Thơm mùa nếp Vải
Không biết từ bao giờ, giống lúa nếp Vải đã bén rễ nơi đồng đất Hợp Thành. Cũng bởi phù hợp thổ nhưỡng, khí hậu, lúa nếp Vải nơi đây mang một hương vị đặc trưng, dẻo, thơm, ai ăn một lần sẽ nhớ. Thường, mỗi năm, nếp Vải chỉ được cấy trong vụ mùa, xuống giống vào tháng 6 và thu hoạch vào tháng 10 âm lịch.
Sau mùa cơm mới (10-10 âm lịch) hằng năm, những hạt gạo nếp Vải căng tròn sẽ được đóng gói và tỏa đi muôn nơi, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho những người nông dân chăm chỉ, cần cù. Giờ đây, không dừng lại ở việc sản xuất gạo, người dân Hợp Thành còn làm cốm từ lúa nếp Vải.
Khi hạt lúa nếp Vải chuyển sang chín sữa, chắc xanh, cũng là lúc người dân Hợp Thành bước vào mùa làm cốm mới. Mỗi vụ cốm về, Hợp Thành đông vui, khác hẳn những ngày nông nhàn. Từ sáng sớm, trong tiết Thu se lạnh, khi sương mai còn đọng trên cỏ cây, hóa lá, người nông dân đã ra đồng gặt những bó lúa non thơm mang về nhà và từ đây, công đoạn làm cốm bắt đầu.
Ông Nguyễn Tá, Chi cục Trưởng Chi cục Trồng trọt tỉnh Thái Nguyên nói: Điều khiến chúng tôi, những người làm công tác quản lý Nhà nước yên tâm nhất chính là những ruộng lúa nếp Vải luôn được sản xuất theo hướng hữu cơ, đảm bảo được nguồn nguyên liệu sạch ngay từ đầu vào. Từ đó sẽ tạo ra sản phẩm cốm đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Công đoạn sản xuất cốm khá cầu kỳ nhưng luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Để có những mẻ cốm dẻo thơm, người làm cốm phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, từ tuốt, đãi lúa đến rang, giã cốm. Trong đó những công đoạn ấy, rang cốm đóng vai trò quyết định chất lượng của sản phẩm bởi nếu rang lúa chưa chín đều hay quá lửa đều ảnh hưởng đến những mẻ cốm ra lò. Với những người làm cốm lâu năm, chỉ bằng đôi bàn tay rám nắng, họ luôn cảm nhận được đúng thời điểm lúa chín thơm.
Ngày nay, với sự hỗ trợ của máy móc, người làm cốm không còn phải mất quá nhiều công sức. Thường, lúa mang về được tuốt bằng máy. Trải qua công đoạn đãi loại bỏ hạt lép và rang bằng chảo, những hạt lúa đã chín được hút vào máy tách để bung những lớp vỏ trấu rồi mới đem giã. Khi những hạt cốm non xanh hiện ra, mùi thơm quyện trong gió thu, chắc chắn ai cũng muốn đưa tay nhúp thử vài hạt cốm dẻo bùi đưa vào khoang miệng thưởng thức vị ngon riêng có ấy.
Bắt đầu từ Hợp Thành, giống lúa nếp Vải đã được mở rộng và phát triển sang các địa bàn lân cận, nhất là vùng đất Đức Lương. Bởi thế, sản lượng cốm hàng năm tại các xã này đã tăng lên, nhờ đó thu nhập của người nông dân cũng được nâng lên đáng kể. Mỗi năm, 2 địa phương này sản xuất trên 200ha lúa nếp Vải để phục vụ nguyên liệu làm cốm.
Đưa hương cốm bay xa
Theo chia sẻ của những người nông dân vùng sản xuất cốm Hợp Thành, Đức Lương, mỗi vụ cốm về người làm ít cũng thu tiền triệu, người làm nhiều có thể thu nhập cả trăm triệu đồng. Bởi, mỗi sào lúa nếp Vải có thể sản xuất được từ 30 đến 50kg cốm, với giá bán khoảng 150 đồng/kg như hiện nay, có thể thu từ 4,5 đến 7,5 triệu đồng.
Ông Đào Văn Long, một trong những hộ đã có 5 năm sản xuất cốm hàng hóa ở Đức Lương chia sẻ: Những diện tích lúa nếp Vải được gieo cấy, chăm bón làm nguyên liệu sản xuất cốm mất ít thời gian chăm sóc, đầu tư phân bón giảm, mà thu nhập lại cao gấp đôi, thậm chí gấp 3 so với sản xuất lúa thông thường.

Hương cốm Hợp Thành đã được "gọi tên" tại Hà Nội và các tỉnh, thành khác trong cả nước.
Cốm, từng là món quà vặt quen thuộc để những người dân trong vùng thưởng thức ngay tại gia đình. Đi qua những tháng năm, món quà đặc sản ấy đã dần trở thành hàng hóa, mang lại sinh kế khá bền vững, ổn định cho người nông dân khi không chỉ dừng lại ở việc bán lẻ trong tỉnh mà được “gọi tên” tại các thị trường như thủ đô Hà Nội và một số cửa hàng thực phẩm, cửa hàng giới thiệu sản phẩm OCOP ở nhiều tỉnh, thành khác.
Dù mùa cốm không kéo dài nhưng các vùng làm cốm ở Thái Nguyên đã biết bảo quản sản phẩm để cho khách hàng có thể dùng quanh năm bằng việc hút chân không những túi cốm trước khi gửi đi xa.
Chị Mạc Thị Hồng, đến từ Bắc Ninh, người yêu thích cốm nếp Vải Thái Nguyên bảo: Tôi thường mang cốm về hấp cách thủy trên bếp để ăn hoặc cho vào tủ đá dùng làm nguyên liệu chế biến chè cốm, chả cốm hoặc bánh cốm quanh năm.
Một thực tế là sản lượng cốm hằng năm ở Hợp Thành, Đức Lương và các xã lân cận hoàn toàn có thể nâng lên khi thị trường đầu ra được mở rộng và phát triển. Tuy nhiên, hiện nay, thị trường tiêu thụ sản phẩm cốm đặc trưng vẫn còn khá khiếm tốn. Bởi lẽ ấy, chính quyền các địa phương nên khuyến khích người dân nâng cao chất lượng sản phẩm bằng việc chuẩn hóa quy trình sản xuất sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giữa hương cốm thơm ngon tự nhiên.
Cùng với đó là chế biến sâu thành các sản phẩm như bánh cốm, xôi cốm, trà cốm, sữa cốm… Ngoài ra, người dân vùng sản xuất cốm cũng nên thiết kế bao bì bắt mắt, thích hợp làm quà đặc sản, dán tem truy xuất nguồn gốc, mã QR rõ ràng để tạo niềm tin với khách hàng.
Để hương cốm bay xa, người sản xuất cũng cần có sự năng động trong phát triển thị thường, nhất là đưa sản phẩm lên các sàn giao dịch thương mại điện tử lớn; tận dụng mạng xã hội trong quảng bá và bán sản phẩm; tích cực tham gia các hội chợ nông sản, tuần lễ văn hóa - ẩm thực, gian hàng OCOP trong và ngoài tỉnh.
Đặc biệt là kết nối đưa sản phẩm vào các hệ thống siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch. Đi xa hơn, mỗi mùa cốm về, Thái Nguyên có thể xây dựng các tour du lịch mùa lúa chín, tham quan làng nghề cốm để du khách trực tiếp trải nghiệm và mua sắm sản phẩm tại chỗ.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/mua-thu-huong-com-moi-8j6h3n3y

