Không gian ảo, nỗi đau thật
Theo báo cáo vừa công bố tháng 9-2026 của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), gần 20 triệu trẻ em 12-17 tuổi tại 21 quốc gia được nghiên cứu, trong đó có Việt Nam, đã trải qua ít nhất một hình thức bóc lột hoặc xâm hại tình dục có yếu tố công nghệ. Thông tin này tiếp tục gióng lên cảnh báo về việc bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.
Báo động từ sự im lặng của trẻ
Cũng theo báo cáo của UNICEF, tại Việt Nam, hơn 56% trường hợp trẻ bị bóc lột hoặc xâm hại tình dục được ghi nhận xảy ra trên các nền tảng mạng xã hội. Cùng với đó, 6/10 trường hợp, tương đương 58,6%, không tiết lộ với bất kỳ ai.
Những con số này cho thấy một thực trạng đáng lo ngại là trẻ em hiện diện ngày càng nhiều trên không gian mạng nhưng khả năng tự nhận biết, đánh giá và tìm kiếm sự trợ giúp chưa theo kịp các nguy cơ mà các em phải đối mặt.

Các bé gái ở phường Bình Tân (TPHCM) tham gia một buổi tập huấn kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục vào dịp nghỉ hè. Ảnh: SƠN VINH
Ông Ngô Minh Hiếu (Hiếu PC), Giám đốc dự án Chống lừa đảo, cho biết, trẻ em lên mạng ngày càng sớm trong khi kỹ năng tự bảo vệ chưa tương xứng. Kẻ xấu có thể tiếp cận các em qua mạng xã hội, trò chơi trực tuyến hay ứng dụng nhắn tin, giả danh bạn bè, từng bước tạo lòng tin, dụ trẻ gửi hình ảnh nhạy cảm rồi dùng chính những hình ảnh đó để đe dọa, tống tiền. Điều đáng nói, nguy cơ không chỉ đến từ những nội dung mà trẻ chủ động chia sẻ.
Với sự phát triển của AI, hình ảnh khuôn mặt của một đứa trẻ có thể bị sử dụng để tạo ra ảnh, video tình dục giả mạo, sau đó phục vụ mục đích làm nhục, đe dọa hoặc tống tiền.
Chuyên viên tâm lý Đào Lê Tâm An, Trưởng phòng đào tạo Trung tâm Ứng dụng khoa học tâm lý JobWay, chỉ ra điều đáng lo ở xâm hại tình dục trên môi trường số là sự việc có thể không kết thúc khi trẻ đã tắt điện thoại hay chặn một tài khoản.
“Một hình ảnh bị phát tán hoặc bị AI cắt ghép có thể được sao chép, gửi lại và xuất hiện ở nơi khác mà trẻ không kiểm soát được. Vì vậy, bên cạnh xấu hổ, sợ hãi và hoang mang, trẻ có thể trở nên cảnh giác quá mức, mất niềm tin vào người khác, ngại đến trường, hạn chế giao tiếp hoặc luôn lo rằng bạn bè, thầy cô, người thân sẽ nhìn thấy nội dung đó. Đặc biệt với deepfake (mô phỏng hình ảnh mặt người), dù hình ảnh hay video là giả, tổn thương tâm lý mà trẻ trải qua vẫn hoàn toàn có thật”, ông nói thêm.
Ở góc độ tâm lý, nhiều nạn nhân trẻ chọn im lặng. Không phải các em không cần giúp đỡ mà vì lo rằng khi chia sẻ, các em sẽ bị quy trách nhiệm thay vì được nâng đỡ và cảm thông. Trẻ có thể lo bị cha mẹ hỏi “tại sao con lại gửi ảnh?”, “tại sao lại nói chuyện với người lạ?” hoặc “ai bảo con làm như vậy?”... Những câu hỏi tưởng như để tìm nguyên nhân có thể khiến trẻ cảm thấy mình có lỗi trong chính sự việc mình là nạn nhân.
Theo ông Tâm An, quá trình hỗ trợ, ngoài mục đích giúp trẻ “quên chuyện đã xảy ra”, còn cần tạo cảm giác an toàn và quyền kiểm soát cuộc sống.
Nâng cao kỹ năng số cho trẻ
Theo luật sư Nguyễn Thị Thanh, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em TPHCM, bảo vệ trẻ em không thể chỉ dừng ở lời nhắc “sử dụng thiết bị hợp lý”, mà cần được nhìn nhận như một vấn đề về quyền trẻ em và trách nhiệm pháp lý.
Việt Nam xây dựng hệ thống pháp luật và cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số dựa trên các văn bản cốt lõi như Luật Trẻ em 2016, Luật An ninh mạng 2018 và Nghị định số 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em và Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội.
Bên cạnh đó, cơ chế bảo vệ và hỗ trợ thực tế bao gồm: Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em (đầu số 111) là nơi tiếp nhận thông tin, tố giác và tư vấn tâm lý, pháp lý khẩn cấp 24/7 đối với các vụ việc xâm hại trẻ em; hệ thống phòng ngừa chủ động gỡ bỏ sớm các nội dung độc hại, hình ảnh xâm hại tình dục trẻ em trên các nền tảng xuyên biên giới, mạng xã hội; đồng thời phối hợp liên ngành, gắn kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, gia đình, nhà trường và kể cả các tổ chức quốc tế để nâng cao kỹ năng số cho trẻ.
Thầy Đinh Phú Cường, Hiệu trưởng Trường THCS Phú Định, phường Bình Phú, khẳng định: Vai trò nhà trường rất quan trọng, nhất là thầy cô giáo, vì đây là những người có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc với các em, kịp thời hỗ trợ ngay khi các em bị bắt nạt trên mạng. Giáo viên có thể phát hiện những dấu hiệu bất thường của học sinh thông qua quá trình học tập và sinh hoạt.
Nhà trường có thể lồng ghép kỹ năng sử dụng mạng an toàn trong các tiết học, hoạt động trải nghiệm, chuyên đề; phối hợp công an, người có chuyên môn về công nghệ thông tin để hướng dẫn học sinh nhận biết, phòng tránh và xử lý nguy cơ.
Tuy nhiên, theo luật sư Nguyễn Thị Thanh, thực tiễn cũng cho thấy, dù đã có rất nhiều quy định pháp luật và cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số, nhưng trước tốc độ phát triển của công nghệ và mạng xã hội, cơ chế hiện nay vẫn cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện để theo kịp thực tế. Khoảng trống đáng quan tâm là việc phát hiện sớm, xác định và xử lý nội dung xâm hại; tốc độ gỡ bỏ nội dung; bảo vệ dữ liệu, danh tính của trẻ và cơ chế phối hợp giữa nền tảng, gia đình và cơ quan chức năng.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần chuyển từ tư duy “dạy trẻ tự bảo vệ mình” sang “xây dựng một hệ thống cùng bảo vệ trẻ”. Cụ thể: gia đình cần đồng hành thay vì kiểm soát; nhà trường trang bị kỹ năng số và kỹ năng tìm kiếm sự trợ giúp; cơ quan chức năng có cơ chế tiếp nhận nhanh, thân thiện với trẻ; còn các nền tảng số phải chủ động phát hiện, ngăn chặn và gỡ bỏ nội dung xâm hại.
Nếu lựa chọn những việc cần làm ngay, các chuyên gia nhấn mạnh ba nhóm giải pháp: trang bị kỹ năng nhận diện và xử lý tình huống xâm hại trực tuyến cho trẻ, phụ huynh và giáo viên; xây dựng các kênh báo tin đơn giản, bảo mật, dễ tiếp cận, không phán xét; đồng thời tăng trách nhiệm của các nền tảng trong phát hiện, ngăn chặn và gỡ bỏ nhanh nội dung xâm hại trẻ em.
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/khong-gian-ao-noi-dau-that-post872472.html
