Giữ nghề qua những đổi thay
VHXQ - Ở Hội An, nghề may từ lâu đã hiện diện trong đời sống thường ngày, từ những cửa hiệu nhỏ đến các cơ sở phục vụ nhu cầu may mặc của người dân và du khách. Qua thời gian, nghề may vẫn được gìn giữ bởi đôi tay khéo léo, sự cần mẫn và chữ tín của người thợ.

Nhà may Tuyết Hoa ở Hội An năm 1970. Ảnh tư liệu
Từ nếp mặc đến nghề may
Nghề may ở Hội An có một nền tảng gần gũi với đời sống của cư dân xứ Quảng, bắt nguồn từ nhu cầu ăn mặc và nguồn vải vóc, tơ lụa phong phú của một vùng đất từng có nhiều hoạt động giao thương. Từ giữa thế kỷ 16, Ô châu cận lục của Dương Văn An đã ghi lại hình ảnh những người phụ nữ mặc “áo Chiêm”, còn đàn ông cầm quạt Tàu, đồ người sang kẻ hèn đều những màu đỏ, hồng và vẽ rồng vẽ phượng. Đến đầu thế kỷ 17, giáo sĩ Cristoforo Borri nhận xét tơ lụa được sử dụng khá phổ biến ở Đàng Trong. Sang thế kỷ 18, Lê Quý Đôn cũng cho biết người Quảng biết dệt vải, dệt lụa, hoa màu đẹp chẳng kém lụa Quảng Đông (Trung Quốc).
Trong không gian đô thị thương cảng Hội An, nếp mặc càng có điều kiện biến đổi theo thời gian và sự giao lưu của cư dân. Người Việt, người Hoa, người Nhật, phương Tây cùng thương nhân nhiều nơi đến làm ăn, buôn bán đã góp phần tạo nên một diện mạo trang phục đa dạng cho phố Hội. Về sau, theo một số quy định của các triều đại phong kiến mà trang phục thường ngày của người dân cũng dần thay đổi.
Khi Hội An ngày càng nhộn nhịp giao thương, nhu cầu may mặc cũng theo đó tăng lên. Cùng với vải vóc, lụa là từ nhiều nơi theo đường bộ, đường thủy đổ về phố, nghề may dần tách khỏi phạm vi gia đình, hình thành những người thợ chuyên cắt, may, sửa quần áo. Từ một công việc gắn với sinh hoạt thường ngày, nghề may từng bước trở thành một nghề kiếm sống, hiện diện trong đời sống người dân phố Hội.
Ngày 12 tháng Chạp hằng năm, những người thợ may ở Hội An thành kính làm lễ giỗ Tổ nghề, tưởng nhớ bà Nguyễn Thị Sen - người được tôn là vị Tổ nghề may. Theo các bậc cao niên, bà là người giỏi ươm tơ, dệt lụa và có công khai mở nghề may mặc; đặc biệt, bà được truyền tụng là người chế ra sợi chỉ từ lá dứa để phục vụ việc may vá.
Qua đó có thể thấy, từ nhu cầu ăn mặc bình dị của cư dân đến những bộ trang phục được may đo theo sở thích của từng người, nghề may đã từng bước bén rễ trong đời sống Hội An. Và để có được một người thợ lành nghề, phía sau mỗi đường kim, mũi chỉ là cả một quá trình học nghề bền bỉ.

Thợ may ở Hội An xưa. Ảnh tư liệu
Giữ nghề từ đôi tay
Buổi đầu, việc may vá hoàn toàn dựa vào đôi tay. Người phụ nữ trong gia đình thường tự may, tự sửa quần áo. Về sau, khi phố thị phát triển, nghề may tách dần thành nghề chuyên nghiệp. Máy may bắt đầu xuất hiện ở Hội An vào đầu thế kỷ 20 với những chiếc máy may cơ học, trong đó có loại vận hành bằng tay quay, có thể đã được sử dụng trước khi máy may đạp chân trở nên phổ biến.
Những năm đầu thế kỷ 20, Hội An có 60 đến 70 người làm nghề với khoảng 20 tiệm, cửa hiệu. Bên cạnh những người may đồ Việt đã xuất hiện các tiệm may Âu phục. Một số tên tuổi, hiệu may được người dân Hội An nhớ đến như Đỗ Mậu, Lê Ái, Trần Ngoạn, Nguyễn Diệm, Trần Tiết cùng các hiệu Công Thành, Vĩnh Lợi, Lữ Phát, Văn Minh, Tiến Hưng, Hiệp Hưng, Hiệp Thái, Tân Tân, Hoàn Mỹ, Châu Toàn, Tuyết Hoa…
Nghề may ngày trước không dễ học. Người mới vào nghề thường phải bắt đầu từ những việc nhỏ nhất. Bà Nguyễn Thị Lý, thợ may lâu năm ở phường Hội An Đông, nhớ lại: “Hồi tôi học nghề, không có chuyện học vài tháng là được ngồi vào bàn máy. Thường phải mất ba, bốn năm mới có thể làm nghề. Ban đầu cứ học từ những việc nhỏ như chọn vải, đo, cắt, ráp, lượt, luông, bấm, tếch khuy… Hồi đó, học cắt cũng phải tập trên giấy báo trước, thấy đã quen tay, đúng dáng rồi mới dám cắt vào vải.
Công đoạn nào cũng phải cẩn thận, nhất là khâu đo. Người thợ xưa vẫn nhắc nhau “sai con toán bán con trâu”, chỉ cần lệch một chút là có khi hỏng cả bộ quần áo. Đo, cắt rồi ráp cho đường may thẳng, đều; sau đó lên lai, làm khuy, đính nút, ủi cho phẳng. Cứ làm từng chút, lâu dần mới quen tay, quen mắt, biết cách đưa vải, nhịp chân khi đạp máy. Nghề may cần sự kiên nhẫn và chịu khó, cây kim, chiếc kéo, bàn máy cũng phải biết giữ gìn...”.
Nghề may vì vậy được xem là nghề “làm dâu trăm họ”. Mỗi người một vóc dáng, một sở thích, một yêu cầu. Người thợ phải biết nghe, biết đo, biết sửa và quan trọng nhất là làm cho khách mặc vừa, mặc đẹp.
Từ tiệm may xưa đến “may nóng”
Những năm đầu thập niên 1990, đời sống người dân khá lên, nhu cầu may mặc cũng tăng. Sau khi Hội An được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999, lượng khách du lịch đến Hội An ngày càng đông. Nghề may từ chỗ phục vụ chủ yếu người địa phương chuyển sang phục vụ cả khách phương xa.
Một hình thức mới nhanh chóng hình thành: “may nóng”. Khách chọn vải, chọn mẫu, lấy số đo rồi chờ vài giờ hoặc một ngày để nhận quần áo. Từ những tiệm may nhỏ, cách làm này dần phát triển thành một dịch vụ đặc trưng của phố cổ. Các hiệu may như Thu Thủy, Yaly, Thắng Lợi, Á Đông Silk, Bảo Khánh... trở thành những địa chỉ quen thuộc của du khách. Nhờ tổ chức công việc hợp lý, một bộ vest, áo đầm hay quần tây có thể hoàn thành trong thời gian rất ngắn. Nhiều hiệu may còn nhận đơn từ xa, gửi hàng đi các nước, đưa nghề may Hội An đến với khách hàng ở nhiều nơi.
Nghề may hôm nay đã khác trước, máy móc và cách làm thay đổi theo nhu cầu của du khách, nhưng người thợ vẫn cần đôi tay khéo, con mắt tinh, sự chịu khó và quan trọng là giữ đúng lời hẹn với khách. Những điều tưởng như giản dị ấy đã theo nghề may ở Hội An qua nhiều thế kỷ.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/giu-nghe-qua-nhung-doi-thay-3357343.html

