Phố rước đèn

Truyện ngắn “Phố rước đèn” kể về một xóm chợ ven sông, nơi có những con người chân chất, bình dị. Sinh sống ở đây mấy chục năm, ông Cường, người đàn ông quê gốc Hà Nội đã nhìn thấy xóm làng đổi khác. Tỉnh lên thành phố, đường làng rộng hơn, chợ đông hơn, những dịch vụ mới xuất hiện nhưng cây đa, bến nước, sân đình, quan họ, hát ống và cả những nghề xưa vẫn được gìn giữ. Ông Cường quanh năm làm vàng mã bán ở chợ phiên, mùa Trung thu thì làm những cái đèn kéo quân bé xíu bán cho trẻ nông thôn, nay sắp được trao tặng danh hiệu nghệ nhân. Dịp này, ông làm dàn đèn cá chép vàng cho đám rước của xã, làm một nghìn cái đèn kéo quân cho người tham gia lễ hội thành phố... Đêm ấy, dưới ánh trăng, mọi người cùng rước đèn. Đèn cá chép vàng lộng lẫy và sinh động như cá thật. Đèn kéo quân nhiều màu xoay tròn. Có cả đèn trời, đèn hoa đăng. Từ đêm rước đèn này, cả vùng đất mênh mông đã mang một tâm thế khác…

Truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Mai Phương (Bắc Ninh).

Thy Lan (giới thiệu)

Heo may đã về xào xạc trên mấy khóm lau sát mép nước. Cả một bờ sông dài mấy hôm nay rực rỡ cờ hoa. Chưa đến Trung thu mà lũ trẻ con tối nào cũng gõ trống thì thùm. Mấy chục năm trước, xóm bờ sông này leo pheo vài nóc nhà giãn dân, buôn bán lặt vặt. Khu làng chính ở bên trong kia, đi qua cánh đồng lớn. Ngoài này là mặt đê, là bãi sông thoai thoải, là bến cát thuyền bè khắp nơi tụ về. Lúc đầu chỉ có vài gia đình ngụ cư và mấy nhà trong làng làm chài lưới, bán hàng xén, xay xát gạo, tráng bánh dựng nhà ở. Rồi chợ làng họp lao xao. Lâu dần, chợ làng thành chợ xã, thành chợ một vùng.

Rau củ ngay đồng ruộng, cá tươi ngay bến sông được bà con mang ra bày bán trên chợ bất kể nắng mưa. Không rõ có phải do đất không mà trái cây, rau cỏ vùng này ngon ngọt hơn nơi khác. Mấy năm nay, khu chợ sầm uất hẳn. Có thêm hiệu cắt tóc nữ, làm móng tay chân, nối mi. Chỗ cụ Thạo cắt tóc và thiến gà giờ là cửa hàng thời trang chuyên bán giày và quần áo thể thao. Có cửa hàng bán chăn đệm ga gối, hiệu ảnh, tiệm sửa chữa ti vi, bán điện thoại. Lạ nhất là có cả văn phòng tư vấn của luật sư và tiệm giặt là. Chốn quê có dịch vụ giặt là quần áo là điều khó hình dung. Ấy vậy mà khá đông khách đấy. Những cô gái trẻ làm giáo viên, công nhân về qua chợ đều tạt vào tiệm. Quán game, quán hát đều đã có. Xóm chợ bờ sông dần được người dân chỗ này tự phong là “phố Bờ Sông” lúc nào không hay. Mùa thu này còn có điều khác lạ nữa. Đúng là thời đại thay đổi như bão. Ông lão Cường chuyên làm vàng mã và đèn giấy chạy ra cửa nhòm theo lũ nhóc con đang vừa đánh trống vừa chạy qua cửa hàng nhà mình lẩm bẩm: Đúng là "thương hải tang điền".

 Minh họa: Văn Tĩnh.

Minh họa: Văn Tĩnh.

Người vùng này càng rõ sự biến đổi bể dâu. Ngày xưa, đường đất, nhà mái ngói, mấy mươi năm như chớp mắt, giờ phần nhiều nhà tầng kiên cố, đường bê tông. Xưa diễn chèo ở sân đình một khoảnh như cái chiếu, người xem là dân làng, nay một đêm hát quan họ giao lưu xóm cũng người xem chật kín cả sân đình và bãi cỏ trước làng. Trai gái bây giờ mặc diện như đi biểu diễn, không còn vẻ lam lũ ngày xưa. Ông lão Cường nhận được đơn hàng lớn từ đôi tháng trước. Làm dàn đèn cá chép vàng cho đám rước của xã, làm một nghìn cái đèn kéo quân cho người tham gia lễ hội của thành phố.

Từ ngày biết tin tỉnh sẽ lên thành phố, dường như nhịp sống nơi này đã đổi khác. Mọi khi, sáng sớm, ai tập thể dục kiểu gì tùy hứng, dạo gần đây có nhiều điểm tập trung cho mọi người học yoga, dưỡng sinh, khiêu vũ. Khuôn viên đầu bến cát được cải tạo lắp đặt máy đi bộ và các máy móc khác để bà con rèn luyện sức khỏe. Ông lão Cường từ ông già quanh năm lọ mọ làm vàng mã bán chợ phiên, mùa Trung thu thì làm những cái đèn kéo quân bé xíu bán cho trẻ nông thôn, bỗng được truyền hình phỏng vấn, chính quyền làm hồ sơ xét tặng danh hiệu nghệ nhân. Nghề làm đèn cũng đã nuôi ông từ ấu thơ còn gì nữa. Năm nay, lượng khách đặt hàng đông vọt lên, chính ông cũng không ngờ. Vàng mã ông làm cũng mang dấu ấn độc quyền, không giống với người khác. Ông bảo, bán cho người cần, chứ không tham giàu.

Chiều. Khói trên sông mờ đục. Ông Cường đang ở nhà thì bà Cúc vào chơi. “Ông Cường ởi, thế cả tỉnh lên thành phố hết thì chúng ta là người thành phố à?”. “Thì đúng rồi”. “Chao ơi, mấy đời cua ốc, ruộng đồng giờ thành người thành phố á? Cứ sao sao nhỉ?”. “Có gì mà sao sao, ruộng bà còn mấy thửa, xã thành phường, bà không đi cấy mà đã bán hàng bún từ lâu rồi còn gì”. “Thế dân ta vẫn làm nông chứ nhỉ?”. “Chả làm thì sao, thành phố thì cũng có ao đầm, đồng ruộng, nông dân chứ”. “Tôi cứ nghĩ thành phố là toàn đường và xe cộ, người người chen chúc”. “Cái bà này, đúng là chẳng hiểu gì, lên thành phố thì quê mình sẽ có nhiều công trình được xây dựng đẹp hơn, rộng rãi hơn, hiện đại hơn. Các di tích lịch sử, văn hóa tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo”... “Tôi không hình dung ra ông ạ. Không ai nghĩ cái xóm chỗ nhà tôi ở lại là tổ dân phố đâu”. “Thế bà chuẩn bị lối sống phố đi là vừa, lập cái tổ dọn vệ sinh theo giờ cho quy củ vào, dọn rác, vứt rác theo giờ như thành phố ấy. Làm công dân thành phố cũng phải học đấy, không phải cứ muốn gì làm nấy đâu”. “Ông thì sao?”. “Tôi á, tôi sẽ làm việc của tôi, bà quên mất tôi vốn là người thành phố à, tôi sẽ mang những thứ đẹp đẽ của thành thị đến đây”.

Bà Cúc chẳng lạ gì chuyện ông Cường đến nhà ai cũng gõ cửa trước, chờ mời vào, mời ngồi mới ngồi, thưa gửi đầu đuôi. Ông không có thói quen “xin một ít” các thứ của người khác. Ông mua và trả tiền, chỉ vài quả ớt hay nắm lá rau thơm cũng trả tiền, một xíu, nhằm trả ơn người cho. Người vùng này chỉ có lội ruộng, tạt vào vườn hái xin. Có lần ông bảo, sống thành thị nó quen rồi, chứ không có ý gì.

Ký ức ông Cường như cuộn phim loang loáng trôi. Lối sống của người Thủ đô văn vật thuở nào thức dậy. Vợ ông đã vĩnh viễn nằm lại nơi này. Không phải gia đình ông không thể trở về Hà Nội mà ông luôn thấy mình không xa được nơi đây. Bến sông, chòm xóm, cuộc sống gần thiên nhiên đã là máu thịt. Mấy chục năm làm nghề truyền thống, ông không giàu nhưng cũng đủ ăn, đủ mặc. Giờ nơi này là phố, vậy là ông được sống lại đoạn đời xưa cũ. Thế là quá hạnh phúc rồi. Gia đình ông vốn ở phố Hàng Mã Hà Nội, cả nhà sống bằng nghề làm và buôn bán vàng mã, đèn giấy Trung thu. Cha ông là chiến sĩ Điện Biên, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chuyển về quê vợ vùng Yên Thế thượng sinh sống. Lúc ấy cậu bé Cường 10 tuổi, đang quen với cuộc sống đô thị phải theo bố mẹ về quê xa heo hút ở, buồn ơi là buồn. Cậu nhớ những sáng tạt vào vườn hoa xem xiếc thú hoặc những tối đùa nhau trên phố, đi khắp mấy ngõ, vào các tiệm bánh nổi tiếng uống ca cao. Nhớ nhất là tiếng rao quà vặt mỗi ngày, tiếng chuông xe đạp leng keng...

Làm trai miền núi rồi đi bộ đội, ông Cường lấy vợ sinh con và chuyển đến vùng Yên Thế hạ ven sông Thương này. Cả vùng ai cũng biết ông Cường Hà Nội chuyện gì cũng tỏ, lắm tài lẻ, khéo tay. Chuyện làm đèn Trung thu và chơi cờ tướng thì nhất vùng.

Phố chợ có hai người đặc biệt, ông Cường và bà Liễu đan mành. Chồng bà đã mất, các con đi làm xa, một mình bà Liễu chẻ lạt, nan tre, giang nứa suốt ngày trên bãi sông. Thuyền chở hàng từ thượng nguồn sông về đỗ kín bến, chất lên bờ hàng đống lớn. Bà Liễu thuê thợ đan phên nứa bán cho các cai thầu làm mái che công trình, đậy gạch ngói... Riêng bà, chỉ làm cốt đèn, vàng mã bán cho ông Cường và đan mành che cửa sổ. Những tấm mành sợi đều tăm tắp, nhuộm màu khéo léo ra hình hoa sen, cây lá rất tinh xảo. Người ta nói bà là em họ ông Cường. Bà Liễu chỉ mỉm cười, không giải thích.

Giờ nơi đây là phố phường, ông dừng lại chỗ này, trồng từ chỗ này những mầm cây mới. Và nguyện là đi lên phía trước, thích nghi với cuộc sống đô thị, các giá trị mới bằng nguyên vẹn ký ức, tâm hồn mình.

Cả phố chợ như đã thành một nơi chốn khác. Phong quang hơn hẳn. Hội trường cũ nhện giăng mọi khi là lớp học miễn phí của cô giáo Trà giờ là thư viện cộng đồng và nơi cho thanh, thiếu niên tập văn nghệ mỗi tối. Lớp học chuyển đến trường mầm non gần đó.

Đêm đầu thu se se lạnh. Cả xóm chợ quây về cửa hàng của ông Cường giúp làm đèn. Mọi người làm khâu dán giấy. Không nói ra nhưng dường như không ít người vẫn tò mò canh cánh về một chuyện trong quá khứ, chưa khi nào tiện hỏi ông Cường. Năm ấy, lúa trỗ muộn, cả làng đang chuẩn bị nấu cơm tối. Tiếng hô hoán, tiếng bước chân rầm rập dội đến. Người trong làng nhìn thấy một đám đông người lạ mặt đang đuổi theo một đôi trai gái ra phía bến sông. Xa cuối ghềnh có vài bóng người lẫn vào đêm tối. Khuya ấy, có ai đó thấy ông Cường lên thuyền đi đâu không rõ.

Ấm chè xanh gần cạn. Ông Cường chậm rãi nói: “Thưa bà con, nhiều năm nay sinh sống ở đây, tôi được bà con xóm chợ thương yêu, đùm bọc. Hôm nay, khi quê mình được là thành phố, những cây đa, bến nước, sân đình, quan họ, hát ống... được giữ gìn tôn vinh. Tôi góp vào mấy ngọn đèn chơi trăng cho vui. Tôi xin hầu các vị một khúc nhạc cũ”.

Ông lão quay vào nhà trong mang cây vĩ cầm đã cũ, nước gỗ nâu bóng ra chơi trích đoạn "Làng tôi" của Văn Cao. Cả gian phòng trầm trồ. Đám thanh niên thốt lên “cụ phong độ thế mà giấu tài”. Đâu ai biết cụ chơi trong dàn nhạc nhà thờ từ nhỏ, bao năm mang đàn giấu đi, nguyện khi nào về lại Hàng Mã thì bỏ ra kéo khúc “Lưu thủy hành vân”. Giờ nơi đây là phố phường, ông dừng lại chỗ này, trồng từ chỗ này những mầm cây mới. Và nguyện là đi lên phía trước, thích nghi với cuộc sống đô thị, các giá trị mới bằng nguyên vẹn ký ức, tâm hồn mình.

Tiếng vỗ tay không dứt. Có ai đó hỏi chuyện năm xưa. Ông Cường bảo: “Đúng rồi, đêm ấy tôi đưa đôi trai gái lên thuyền. Anh chàng vốn là một thanh niên ở miền biên viễn, cô gái đem lòng yêu và theo chàng nhưng gia đình ngăn cấm. Hai người không biết đi đâu về đâu, tôi không thể không giúp nên đưa về xuôi nhờ cậy một người họ hàng cưu mang. Giờ cô ấy thuộc về nơi này rồi”. Ông già kéo tay bà Liễu lại gần. Bà Liễu bỗng chắp tay lạy ông ba lạy rồi òa khóc. Ai cũng sững sờ giây lát rồi xúm vào an ủi, vỗ về, ôn lại chuyện xưa...

Dưới ánh trăng, người trong làng kéo ra bến sông ngày một đông. Mọi người nhất định phải rước thử dàn đèn cá chép và kéo quân trước ngày lễ trọng đại xem có ổn không. Cả bãi sông sáng rực. Đèn cá chép vàng lộng lẫy và sinh động như cá thật. Đèn kéo quân nhiều màu xoay tròn. Có cả đèn trời, đèn hoa đăng... Đám trẻ con rùng rùng đi sau gõ trống. Chao ôi, cảnh tượng y như cổ tích. Ai có mặt cũng thấy phấn khích khác thường. Có người lặng lẽ lau nước mắt vui sướng. Có người mỉm cười nghĩ về vùng đất này, nghĩ về câu chuyện mà cái phố Bờ Sông sẽ còn kể mãi...

Đám người đi cả trăm vòng quanh bãi sông, vào làng rồi đi ra sát mặt nước mới dừng lại. Mọi người thống nhất sau hôm nay sẽ đặt tên phố Bờ Sông này là phố Rước Đèn. Ông lão Cường là “thần đèn”. Từ đêm rước đèn này, cả vùng đất mênh mông đã mang một tâm thế khác. Vì thế, Trung thu mỗi năm sẽ đều làm đèn và rước đèn từ đây rồi đi khắp phố phường lân cận.

Truyện ngắn của Nguyễn Thị Mai Phương

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/pho-ruoc-den-postid454603.bbg