Phẩm cách một nhà chí sĩ yêu nước

Năm 1946, giữa thời khắc “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao Quyền Chủ tịch nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng với lời ủy thác: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) cùng các thành viên Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) cùng các thành viên Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên khai sinh là Huỳnh Văn Thước, sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học ở Quảng Nam (cũ). Cụ nổi tiếng thông minh, hiếu học và sớm đạt thành tích cao trên con đường khoa bảng. Năm 1900, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương, năm 1904 đỗ Tiến sĩ.

Với uy tín, trí tuệ và nhân cách của mình, cụ Huỳnh Thúc Kháng từng đảm nhận nhiều trọng trách, trong đó có cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam và Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, cụ cùng các sĩ phu yêu nước như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp tham gia vận động phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Tư tưởng canh tân hướng tới khai mở dân trí, chấn hưng dân khí, cải thiện đời sống nhân dân được cụ thể hóa qua việc mở trường, truyền bá chữ Quốc ngữ, phát triển kinh tế và vận động cải cách xã hội.

Năm 1908, trước sự phát triển của phong trào yêu nước, thực dân Pháp tiến hành đàn áp, bắt giam nhiều sĩ phu, trong đó có cụ Huỳnh Thúc Kháng. Tháng 6/1908, cụ bị kết án đày ra Côn Đảo. Suốt 13 năm bị lưu đày (1908-1921), điều kiện khắc nghiệt của nhà tù thực dân không làm thay đổi ý chí và lựa chọn của một người đã đặt vận mệnh dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.

Được trả tự do năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục hoạt động xã hội và tìm kiếm những hình thức đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh. Năm 1926, cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tại nghị trường, cụ lên tiếng về các quyền tự do, dân chủ, cải cách chính trị, giảm sưu thuế và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Năm 1927, cụ sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế và trực tiếp đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Trong 16 năm hoạt động, từ năm 1927 đến năm 1943, Tiếng Dân trở thành một diễn đàn báo chí có ảnh hưởng ở Trung Kỳ, góp phần truyền bá tư tưởng yêu nước, nâng cao dân trí, phản ánh đời sống xã hội và lên tiếng trước những bất công, áp bức đối với người dân.

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội, nhấn mạnh đây là ý kiến chung của nhiều lực lượng vì “đồng bào ba kỳ đều tín nhiệm cụ” - đó là sự ghi nhận đối với một nhân vật đủ uy tín xã hội được tích lũy trong nửa thế kỷ dấn thân.

Trong nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng là “người học rộng, chí bền, đạo đức rất cao”, “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau; từ ngày 31/5 đến 21/10, cụ Huỳnh được Bác Hồ ủy nhiệm Quyền Chủ tịch nước. Trong lúc đó, tình hình trong nước muôn vàn khó khăn, ngân khố cạn kiệt, nội phản quấy phá, đối ngoại phức tạp, dân trí còn bỡ ngỡ với nền độc lập non trẻ. Câu căn dặn “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đầy đủ chiến lược, sách lược để giữ vững nền độc lập và đoàn kết toàn dân tộc.

Di tích quốc gia Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng thuộc xã Thạnh Bình (TP Đà Nẵng).

Di tích quốc gia Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng thuộc xã Thạnh Bình (TP Đà Nẵng).

Nói về vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng phải thấy cách chọn người và dùng người hiền tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thời gian giữ trọng trách Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng Chính phủ xử lý nhiều công việc quan trọng, góp phần giữ vững chính quyền cách mạng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Ở bình diện nội trị, cụ Huỳnh Thúc Kháng siết kỷ luật hành chính, coi trọng nguyên tắc: Việc công phải đúng hạn, có đầu mối, có người chịu trách nhiệm. Ở bình diện đối nội – an ninh, cụ kiên quyết trấn áp các mưu đồ lật đổ, bảo vệ chính quyền non trẻ bằng pháp luật, đồng thời chủ trương đối thoại, tạo không gian cho ý kiến khác biệt nhưng cùng mục tiêu độc lập dân tộc. Ở bình diện đối ngoại, cụ giữ giọng điệu điềm đạm, thông điệp nhất quán bảo vệ bằng được hòa bình, độc lập…

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về, Người ghi nhận nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Quyền Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng, nhiều việc khó đã được giải quyết, công cuộc kiến thiết tiến bộ.

Sau Toàn quốc kháng chiến (12/1946), cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Đặc phái viên Chính phủ ở Nam Trung Bộ. Cụ đi từng làng xóm vận động kháng chiến - kiến quốc. Cụ qua đời tại Quảng Ngãi năm 1947, yên nghỉ bên núi Thiên Ấn.

Năm 2012, cụ Huỳnh Thúc Kháng được Đảng, Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng, ghi nhận những công lao, cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

150 năm sau, cuộc đời và sự nghiệp của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn là một phần đáng trân trọng trong lịch sử dân tộc, nhắc nhớ về trách nhiệm của một bậc nhân sĩ sẵn sàng gánh vác trọng trách trước yêu cầu của đất nước, của Cách mạng, của nhân dân.

Cùng với các nhà trí thức thời đó như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng tham gia phong trào Duy Tân, cổ súy khai dân trí, chấn dân khí. Năm 1908, ông bị bắt, đày ra Côn Đảo và trải qua gần 13 năm tù đày.

Ra tù năm 1921, ông tiếp tục hoạt động xã hội, rồi tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ. Nhưng khi nhận ra giới hạn của nghị trường dưới chế độ thuộc địa, Huỳnh Thúc Kháng tìm đến một con đường khác để nói lên những điều người dân cần được nói: báo chí.

Ngày 10/8/1927, số đầu tiên của Tiếng Dân ra đời tại Huế. Cụ Huỳnh Thúc Kháng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Sự ra đời của tờ báo không chỉ đánh dấu một bước phát triển của báo chí quốc ngữ ở Trung Kỳ, mà còn mở ra một diễn đàn khai dân trí, chấn dân khí và bảo vệ quyền lợi của người dân trong hoàn cảnh đất nước nằm dưới ách thống trị của thực dân.

Điều đáng khâm phục là Tiếng Dân tồn tại gần 16 năm, ra được 1.766 số trong điều kiện kiểm duyệt ngặt nghèo của chính quyền thực dân.

Đó không phải là kết quả của sự thỏa hiệp, mà là thành quả của bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật làm báo mềm dẻo nhưng kiên định của cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng những người cộng sự.

Đó là một lựa chọn dấn thân. Cụ xem báo chí không phải con đường tìm kiếm danh lợi, mà là phương tiện thức tỉnh đồng bào và phụng sự đất nước.

Ngày 21/4/1943, chính quyền thực dân ra quyết định đình bản Tiếng Dân. Nhưng dấu ấn của tờ báo Tiếng Dân vẫn còn nguyên giá trị. Tiếng nói khai sáng, phản biện và phụng sự nhân dân của tờ báo ở một giai đoạn lịch sử vẫn tiếp tục vang vọng trong dòng chảy báo chí Việt Nam.

Năm 1949, trường đào tạo báo chí đầu tiên của báo chí Cách mạng Việt Nam được thành lập ở chiến khu Việt Bắc và mang tên Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng. Trường đặt tại Đại Từ, Thái Nguyên. Địa điểm này sau đó trở thành Di tích lịch sử quốc gia, một dấu mốc đặc biệt của lịch sử báo chí Việt Nam.

Thành Vĩnh

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/pham-cach-mot-nha-chi-si-yeu-nuoc.html