“Lá cà” trong “Giáp lá cà” là gì?
Thành ngữ Giáp lá cà/ Đánh giáp lá cà được Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức) giải thích là “ráp đánh nhau bằng võ-khí ngắn”. Còn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê-Vietlex) giảng là “đánh ở cự li gần bằng báng súng, lưỡi lê, dao găm, gươm giáo, gậy gộc... hoặc bằng tay không. Đồng nghĩa: cận chiến, giáp lá cà, xáp lá cà”.

Nghĩa của thành ngữ là vậy, nhưng một câu hỏi thú vị được đặt ra là “lá cà” trong “giáp lá cà” là gì?
Sách 1575 thành ngữ tục ngữ cần bàn thêm (Lê Gia) cho rằng: “Hai cây cà trồng gần nhau nếu lá của cây này mà sát vào nhau thì chỗ đụng nhau ấy sẽ tự nhiên dần dần ủng thối và hư luôn [...] Vậy nên, trong chiến trận, khi quân sĩ hai bên đã tiến sát vào nhau mà đánh cận chiến thì hễ hai người đụng nhau là phải có người bị ngã, người ta gọi đánh nhau như vậy là “Đánh giáp (sát) lá cà”.
Tác giả Nguyễn Việt Khoa (Tại sao gọi là giáp lá cà - nguyenvietkhoa.edu.vn, 2017) cho rằng “Lá cà” là một từ dân gian để chỉ bộ phận che ngực, bụng và hạ bộ của áo giáp võ quan ngày xưa [...] Còn “đánh giáp lá cà” là đánh nhau gần tới mức lá cà của áo giáp kề sát vào nhau”. Bài Sao gọi là “đánh xáp lá cà”? (PGS.TS. Phạm Văn Tình - Báo Quân đội Nhân dân, 2021) có cách giải thích tương tự.
Theo chúng tôi, cách lý giải của Lê Gia thiếu cơ sở. Bởi trong thế giới thực vật cũng có hiện tượng “kị nhau”, loài này trồng gần loài kia thì gây hại, loại trừ nhau. Nhưng với những cây cùng loài, cùng giống, khi trồng dày, cành lá giao nhau, cùng lắm cũng chỉ cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng, dẫn đến kém sinh trưởng, dễ phát sinh sâu bệnh, chứ không có chuyện “trồng cà” mà “lá của cây này mà sát vào nhau thì chỗ đụng nhau ấy sẽ tự nhiên dần dần ủng thối và hư luôn”. Thực tế cho thấy, vườn cà khi giao tán nhau vẫn sinh trưởng tươi tốt, cho thu hoạch bình thường.
Tác giả Nguyễn Việt Khoa, PGS.TS. Phạm Văn Tình có hướng tiếp cận khá hay. Tuy nhiên, xét cụ thể thì cách giải thích này lại chưa thỏa mãn được thực tế những trận chiến giáp lá cà. Vì nếu “lá cà” là “bộ phận che ngực, bụng và hạ bộ”, khi “cận chiến”, “lá cà” của các võ quan kề sát hẳn vào nhau”, phải hiểu các “võ quan” xông vào vật nhau mới đúng. Chỉ khi vật nhau, ôm nhau, thì bụng mới áp với bụng, “lá cà” của các võ quan” mới “kề sát hẳn vào nhau”. Trong khi “đánh giáp lá cà” là đánh nhau trực diện bằng tay không hoặc võ khí ngắn, giữa hai đối thủ vẫn giữ một khoảng cách tuy gần mà linh hoạt.
Theo một hướng tiếp cận khác, chúng tôi cho rằng, “lá cà” trong “giáp lá cà” chính là cách dân gian gọi cái thuẫn, hay khiên, mộc (còn gọi “lá chắn”). Về mặt từ nguyên có hai khả năng:
1- “Cà” trong “lá cà” là từ chữ “già” 遮, gốc Hán được Hán ngữ đại từ điển giảng nghĩa thứ 3 là “che chắn, bảo vệ” (nguyên văn: yểm hộ; phòng hộ 掩護; 防護).
Về mặt âm đọc, mối quan hệ già 遮 ↔ cà ta còn thấy trong nhiều trường hợp khác như gia/già 茄 ↔ cà (cây cà); già 迦 ↔ ca (trong Thích Già 釋迦 ↔ Thích Ca, vị tổ của đạo Phật). Theo đó, “lá cà” hiểu đơn giản là “lá chắn”. Mà “lá chắn” được Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê giảng là “tên gọi chung vật dùng để che đỡ cho tên, gươm, giáo khỏi trúng người trong chiến trận thời xưa, như khiên, mộc...”.
Xét hình dáng tấm “lá chắn” rất giống cái lá cà.
Lá cây cà (đặc biệt là giống cà dại, cà gai leo) phần đầu lá bằng, tựa như phần trên của cái thuẫn; đoạn thân phình ra rồi hóp dần về phía đuôi lá; gân và gai trên lá nổi lên giống những chiếc đanh thép ghép các mảnh gỗ của lá chắn lại với nhau.
Dù là gì trong hai cách hiểu trên thì khi cận chiến, tay trái chiến binh cầm lá cà, luôn giơ ra phía trước, tay phải cầm võ khí ngắn, vừa đánh vừa che đỡ, tấn công đi đôi với phòng thủ. Đao kiếm bên này xỉa, chém, bị lá cà bên kia chống đỡ. Lúc “vờn nhau”, “giữ miếng” thì cả hai bên đều giơ “lá cà” ra phía trước. Lá cà của bên nọ “sát”, “giáp”, “chập” vào “lá cà” của bên kia. Hai bên chỉ chực đối phương sơ hở là đưa ra cú đâm, chém chí mạng. Bởi vậy, dân gian còn có câu “Rình nhau như miếng mộc”. “Miếng mộc” ở đây chính là “lá chắn”, “lá cà”. Khi “lá cà” của hai bên “giáp”, “sát” vào nhau, chính là khoảng cách vừa đủ để sử dụng võ khí ngắn tiêu diệt đối phương.
Như vậy, theo chúng tôi, “lá cà” không phải là áo giáp, mà là lá chắn. Còn “cà” trong “lá cà” có thể là biến âm từ chữ già 遮, có nghĩa che chắn, hộ vệ; hoặc dân gian gọi theo hình tượng cái “lá chắn” của chiến binh giống lá cà (tên chữ là gia/già 茄). Theo cách hiểu này, giáp lá cà chỉ lối đánh ở cự li gần, khi “lá cà” (thuẫn, khiên, mộc) của hai bên áp sát nhau. Về sau, thành ngữ được hiểu rộng hơn, chỉ mọi hình thức cận chiến bằng võ khí ngắn hoặc bằng tay không, như cách giải thích của Từ điển tiếng Việt.
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/la-ca-trong-giap-la-ca-la-gi-45345.htm
