Dòng chảy FDI

ĐNCT - Tám tháng qua, Đà Nẵng thu hút 682 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 186,6% so với cùng kỳ năm trước. Con số ấy đáng chú ý không chỉ vì mức tăng gần gấp ba. Điều đáng nói hơn nằm ở cách dòng vốn đang vận động.

Phân tích cụ thể cho thấy có 100 dự án FDI được cấp mới với tổng vốn đăng ký 522 triệu USD, tăng 29,9% về số dự án nhưng tăng tới 258,2% về vốn. Có 38 dự án điều chỉnh tăng vốn với 142 triệu USD, tăng 99,8% so với cùng kỳ. Riêng tháng Tám, dòng vốn vào thành phố đạt 279 triệu USD, một con số rất lớn so với cùng kỳ.

Nhìn vào những con số ấy có thể thấy một chuyển động đáng quan tâm không chỉ là số dự án tăng mà tốc độ tăng vốn nhanh hơn rất nhiều. Nghĩa là quy mô bình quân của những dự án mới đang lớn lên. Dòng tiền không chỉ tìm đến Đà Nẵng nhiều hơn mà dường như đang tìm đến đây với bài toán đầu tư lớn hơn.

Đó là tín hiệu vui.

Nhưng vốn nhiều chưa phải là tất cả. Điều quan trọng hơn là dòng vốn ấy chảy vào nền kinh tế sẽ giải quyết các câu hỏi như sẽ có gia tăng công nghệ mới không; bao nhiêu doanh nghiệp trong nước được bước vào chuỗi cung ứng; bao nhiêu kỹ sư, công nhân kỹ thuật, nhà quản trị người Việt được đào tạo và trưởng thành; bao nhiêu giá trị mới được tạo ra tại Đà Nẵng.

Những câu hỏi ấy đáng đặt ra khi Đà Nẵng đứng trước không gian phát triển khác trước. Thành phố sau hợp nhất có một quy mô mới, một không gian kinh tế rộng hơn, những lợi thế mới về cảng biển, sân bay, logistics, công nghiệp, công nghệ cao, du lịch, dịch vụ và nguồn nhân lực. Khu thương mại tự do, khu công nghệ cao, Trung tâm tài chính quốc tế cùng những hạ tầng chiến lược đang mở ra hệ sinh thái mà Đà Nẵng quy mô nhỏ trước đây khó có được.

Dòng FDI vì thế cần được nhìn như một dòng chảy trong không gian lớn hơn.

Nếu đọc câu chuyện FDI bằng tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 8/6/2026, thì sẽ khác nữa. Nghị quyết này yêu cầu chuyển hướng từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược; từ thu hút theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng phải trở thành những tiêu chí chủ yếu.

Đặt vào Đà Nẵng, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa.

Lợi thế của thành phố mới không chỉ nằm ở quỹ đất rộng hơn. Lợi thế lớn hơn là khả năng nối những không gian tưởng như khác nhau thành chuỗi. Cảng biển nối với logistics. Sân bay nối với thương mại. Khu công nghệ cao nối với trường đại học và nguồn nhân lực. Khu thương mại tự do nối với thị trường quốc tế. Trung tâm tài chính nối với những dòng vốn dài hạn. Và doanh nghiệp FDI phải có một điểm nối với doanh nghiệp trong nước. Nếu những mối nối ấy hình thành, FDI mới trở thành một phần của năng lực sản xuất mới.

Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; đồng thời hướng tới việc có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI. Nghị quyết cũng xác định những lĩnh vực ưu tiên như điện tử, chip bán dẫn, thiết bị số, AI, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh, logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng, tài chính và những dịch vụ giá trị gia tăng cao.

Có lẽ đây là những gợi mở trực tiếp với Đà Nẵng, để đặt ra mục tiêu, hiệu quả là thước đo khi thu hút dòng vốn FDI.

Khi nhà đầu tư nước ngoài đến đây không chỉ có vốn mà còn mang theo công nghệ, thị trường, tiêu chuẩn quản trị và những mối liên kết mới. Khi doanh nghiệp Đà Nẵng được tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị. Khi lao động địa phương không chỉ có thêm việc làm mà có thêm một nghề, một kỹ năng, một cơ hội đi xa hơn. Dòng FDI khi ấy mới thực sự trở thành dòng chảy phát triển.

Và điều cần nhất là làm sao cho dòng FDI gặp được hệ sinh thái đủ mạnh để ở lại, lan tỏa và tạo ra những dòng chảy mới.

ĐĂNG QUANG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dong-chay-fdi-3352563.html