Đất lửa Ngân Hà

Mùa hè năm 1966, tại lõm căn cứ cách mạng vùng đông Điện Bàn, 36 chiến sĩ tổ 1 (nay là khối phố Ngân Hà, P. Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam) đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, dấy lên lòng căm phẫn trong toàn thể người dân nơi đây.

Mùa hè năm 1966, tại lõm căn cứ cách mạng vùng đông Điện Bàn, 36 chiến sĩ tổ 1 (nay là khối phố Ngân Hà, P. Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam) đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, dấy lên lòng căm phẫn trong toàn thể người dân nơi đây. Đã hơn 50 năm trôi qua nhưng hình ảnh các anh vẫn còn sống mãi trong kí ức của các cựu chiến binh. Để hôm nay, mỗi khi nhắc lại, các cựu chiến binh lại cầm chặt tay nhau, bồi hồi kể về lịch sử hào hùng thời khói lửa ở lõm căn cứ cách mạng trong lòng dân này...

Nhà bia tại khối phố Ngân Hà là nơi ghi công hàng trăm anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến, bảo vệ quê hương. Ảnh: NGUYÊN THẢO

Nhà bia tại khối phố Ngân Hà là nơi ghi công hàng trăm anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến, bảo vệ quê hương. Ảnh: NGUYÊN THẢO

Lõm cách mạng vùng đông Điện Bàn nằm sâu trong con đường bê-tông nhỏ dẫn vào khối phố Ngân Hà. Với địa thế đặc biệt quan trọng nên từ những năm 1954-1975, nơi đây đã trở thành một lõm căn cứ vững chắc cho các đồng chí, cán bộ của tỉnh và huyện hoạt động cách mạng ngay giữa lòng địch, đóng góp rất lớn cho công cuộc đấu tranh, giải phóng đất nước. Dẫn chúng tôi đi dọc theo con đường bê-tông quanh khối phố, ông Nguyễn Hữu Kiểm, một cựu chiến binh đã từng bám trụ chiến đấu trong những năm chống Mỹ bồi hồi lật giở lại từng trang kí ức. Ông Kiểm cho biết ngày đó Điện Bàn được chia thành 4 khu: A, B, C, K. Từ khu A xuống khu B bao gồm Điện Thắng, Điện Thọ, Điện Hòa; khu K là 3 xã Gò Nổi. Khu C là lõm vùng đông Điện Bàn gồm Điện Nam, Điện Dương, Điện Ngọc, Điện Vinh và Điện Bình.

Ông Kiểm kể, những năm 1954-1964 là giai đoạn hoạt động bí mật. Các cán bộ tỉnh ủy, huyện ủy thuộc quân khu Quảng Đà đều về đây hoạt động cách mạng. Ngày đó, địch đánh chiếm một trường học nhỏ ở làng và dựng nên “Hội đồng Thanh Thủy”, biến trường học thành nơi bắt giữ và tra tấn cán bộ, bộ đội ta. Tháng 3-1964, quân dân ta tiến đánh vào hội đồng của địch, tiêu diệt gần 20 tên địch, tiêu diệt được xã trưởng, xóa bỏ hoàn toàn “Hội đồng Thanh Thủy”. Sau trận thắng này, quân dân ta chính thức làm chủ toàn diện về mặt quân sự - chính trị tại thời điểm đó.

Sau trận thua đau, tháng 3 âm lịch năm 1966, giặc điên cuồng lùng sục khắp làng, cho gián điệp trà trộn vào hoạt động trong thôn, tìm nơi ẩn nấp, hoạt động của bộ đội ta. Mùng 5-3 âm lịch, chúng cho quân vào càn quét từng hầm bí mật, nơi nuôi giấu bộ đội ta. Đến đây, ông Kiểm nghẹn lời: “Địch nã đạn vào quân ta, bắn chết từng người một. Tổng cộng 37 chiến sĩ đã hy sinh, trong đó có cả bộ đội, du kích, cán bộ. Các anh em chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, quyết “chết vinh còn hơn sống nhục”, không để địch có cơ hội bắt sống một ai”.

Theo lời ông Kiểm, man rợ hơn, sau khi giết, chúng lột trần tất cả các chiến sĩ, phơi nắng 3 ngày đêm dọc QL1A ở khu A. Sau đó, chúng dồn dân lên nhận xác người thân và uy hiếp tâm lý hòng ép người dân khai ra chỗ ẩn nấp của quân ta. Sự hy sinh của 37 chiến sĩ đã vang dội cả đặc khu Quảng Đà, khiến lòng căm thù của người dân càng dâng cao, trước đã một lòng bám đất, giữ làng, nay lại quyết tâm “một tấc không đi, một ly không rời”.

Năm 1967, lấy khẩu hiệu “Bình định”, địch cho xây dựng 3 đồn: đồn Thành, đồn Thu, đồn Lịch để kiểm soát, quản lý người dân vùng đông Điện Bàn. Trước tình cảnh giặc Mỹ mang danh bình định, dồn dân chiếm đất đai, xây dựng đồn bốt ở quanh thôn xóm, đại đội 2 (bộ đội huyện Điện Bàn bấy giờ) phối hợp với lực lượng du kích địa phương mở đầu trận đánh vào đồn Thành lần thứ nhất. Trong trận đánh không thể không nhắc đến sự dũng cảm của cô du kích trẻ Huỳnh Thị Lợi, chỉ mới 20 tuổi đã bí mật đánh bom, diệt gọn 40 tên địch. Trong trận đánh đồn Thành lần 2, địch bị tiêu diệt gần hết lực lượng, tê liệt hoàn toàn, mất khả năng chống trả. Năm 1970, đại đội 2 tiến đánh và diệt gọn đồn Lịch. Sau trận thua này, quân địch tiếp tục đưa quân vào hòng kiên cố đồn Lịch. Lúc này, đơn vị đặc công 91 của Tỉnh Ủy Quảng Đà (khoảng 20 người) đã diệt gọn đồn Lịch. Tuy nhiên, địch lại tiếp tục đưa quân vào đồn Lịch một lần nữa hòng chia cắt vùng C với vùng A, K, B.

Năm 1972, địch về đóng quân, dựng lên đồn Thu. Đại đội 2 tấn công 2 lần liên tục vào đồn Thu. Lần 1 tiêu diệt gọn trung đội của địch, lần 2 vào năm 1973, tiêu diệt sạch quân địch, xóa được đồn Thu. Sau trận đồn Thu, địch tiếp tục về lại khu C, nhân danh “Bình định”, trấn áp, đàn áp dân ta. Địch đưa vào làng gần 100 lính, đóng quân tại làng. Ông Kiểm tự hào kể lại: Lúc đó, ông cùng ông Huỳnh Tiều, đã rà theo đường dây lựu đạn của địch, gỡ lấy lựu đạn ném lại địch, tiêu diệt gần 40 tên. “Ngày đó quân ta vũ khí, đạn dược ít. Chúng tôi cứ theo phương châm lấy vũ khí của địch đánh địch thôi”, ông Kiểm bồi hồi nhớ lại. Cuối năm 1973, quân địch rút lui, chỉ còn vài tên đi càn, lùng sục tìm bộ đội ta để giết hại, các đồn bốt của địch bị xóa sạch. Mãi đến năm 1975, khi nước nhà thống nhất, địch mới rút toàn bộ quân khỏi lõm cách mạng vùng đông Điện Bàn.

Kể về lịch sử hào hùng của quê hương, ông Kiểm không khỏi tự hào khi nhắc đến trận đánh ở sông Ngân Hà năm 1971. Trận đó, địch bố trí 2 tàu chở theo 24 lính, tàu chiến được trang bị hệ thống vũ khí: đạn cối 60, 2 cây đại liên 12,7 ly, 1 cây cối 79, tiến từ sông Hàn (Đà Nẵng) tập kích vào sông Ngân Hà. Nhận được tin, đại đội 2 phối hợp với du kích địa phương mai phục, tấn công khi tàu tiến đến gần bờ. Kết quả, ta đánh chìm 2 tàu và diệt gọn 24 tên địch. Trận thắng trên sông Ngân Hà đã giúp nhân dân lấy lại quyền làm chủ, tự do đi lại trên sông.

Ông Kiểm chia sẻ: Lúc bấy giờ, mỗi một ngôi nhà, khu vườn đều có ít nhất 3 hầm công sự để nuôi giấu cán bộ, du kích. Tất cả nhà dân trong thôn đều là cơ sở cách mạng, hoạt động ngay trong lòng địch vô cùng nguy hiểm. Cả làng có khoảng 160 căn hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, bộ đội, du kích suốt thời kỳ kháng chiến. Ở ngoài trời, dưới những bụi tre, cạnh bờ ao hay cây rơm, cũng đều có hầm công sự như vườn nhà Bảy Giá, vườn Điền, vườn Huề, vườn Huynh, vườn Thuật... Có những căn hầm được tận dụng từ những hố bom, đại bác; có những hầm công sự được đào dưới bàn thờ, dưới giường ngủ, dưới những cái chum làm bồn đựng nước. Cũng từ những cái chum lớn ấy, bà con đã đắp đất lên ngăn thành những ụ đất to để quân ta ẩn nấp. Các đồng chí cán bộ, chiến sĩ đã cùng phối hợp với người dân đào công sự. Bị phát hiện chỗ này, lại đào chỗ khác. Có nhiều đêm, địch truy lùng ráo riết, các đồng chí phải di chuyển liên tục mà không bị phát hiện.

Đứng trước sân nhà anh Nguyễn Văn Hải - Trưởng khối phố Ngân Hà, ông Kiểm chỉ tay hướng thẳng về phía vườn chuối, cho biết: “Năm 1974, hồi đó tôi mới 16 tuổi, chứng kiến quân địch giết bộ đội ta, tôi đã quên sợ mà giương thẳng súng, bắn hạ 3 tên địch ngay tại chỗ”. Nơi chúng tôi dừng chân cuối cùng tại lõm cách mạng Ngân Hà là nhà bia ghi công các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh ngày ấy. Vừa đốt nén hương ông Kiểm vừa nói như thuộc nằm lòng, toàn khối phố Ngân Hà có 54 Mẹ Việt Nam anh hùng, 22 liệt sĩ chống Pháp, 186 liệt sĩ chống Mỹ, 2 liệt sĩ hy sinh ở chiến trường Campuchia, 2 dũng sĩ diệt Mỹ, 3 anh hùng LLVT nhân dân, 1 anh hùng lao động. Qua mỗi dòng kí ức về những năm bom đạn, cả ông Kiểm và bà Nguyễn Thị Thơ - Bí thư khối phố Ngân Hà đều khẳng định: “Dân và quân ta ít, vũ khí cũng không được nhiều như quân địch nhưng tất cả đều yêu nước, dũng cảm và quyết đấu tranh để bảo vệ xóm làng, bảo vệ đất nước”.

NGUYÊN THẢO – HẢI ĐƯỜNG

Nguồn CAĐN: http://cadn.com.vn/news/65_209687_dat-lua-ngan-ha.aspx