Nâng tầm nông sản
Từ tiềm năng, thế mạnh và những chính sách khuyến khích sản xuất, Lào Cai đã hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa rõ nét với 16.082 ha chè, 6.555 ha dược liệu, 1.535 ha dâu tằm, 25.590 ha cây ăn quả và hàng trăm nghìn ha rừng và quế. Gắn với những vùng nguyên liệu ấy, toàn tỉnh đã phát triển hơn 1.000 cơ sở chế biến nông sản, từ đó, tạo sự gắn kết giữa nguyên liệu, sản xuất và thị trường, qua đó, nâng cao giá trị nông sản.
Dọc những cánh đồng soi bãi ven sông, suối thuộc các xã: Trấn Yên, Quy Mông, Xuân Ái..., hôm nay trải dài màu xanh của dâu tằm. Riêng xã Trấn Yên có khoảng 700 ha dâu với khoảng 1.400 hộ nuôi tằm, 15 hợp tác xã và hơn 100 tổ hợp tác, mỗi năm cho sản lượng khoảng 1.500 tấn kén, giá trị sản xuất khoảng 300 tỷ đồng; thu nhập bình quân đạt 300 - 330 triệu đồng/ha.
Cùng với sự phát triển của vùng dâu là sự hiện diện của Nhà máy chế biến của Công ty Cổ phần Dâu tằm tơ Yên Bái. Hoạt động từ năm 2020 với tổng vốn đầu tư đến nay khoảng 80 tỷ đồng, nhà máy có công suất thiết kế 150 tấn tơ thành phẩm/năm, tương đương 1.100 - 1.200 tấn kén.

Theo ông Vũ Xuân Trường - Giám đốc công ty, nhà máy là cơ sở để các địa phương phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm khi có đầu ra ổn định, đồng thời tạo việc làm cho gần 200 lao động địa phương.
Bên cạnh cây dâu tằm, tre măng Bát độ giờ đã "xanh cây, bén rễ" với diện tích hàng nghìn ha tại các xã: Hưng Khánh, Lương Thịnh, Chấn Thịnh và Thượng Bằng La. Trong đó, riêng xã Hưng Khánh hiện có khoảng 2.000 ha.
Để có vùng hàng hóa trên, Nhà máy chế biến măng của Công ty TNHH Yamazaki Việt Nam đặt tại xã Hưng Khánh được coi là “bà đỡ” cho vùng nguyên liệu này.
Ông Nguyễn Khắc Định - Giám đốc công ty cho biết: Với công suất 3.000 - 5.000 tấn măng tươi/năm, việc doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu và duy trì thu mua sản phẩm giúp người dân yên tâm mở rộng diện tích.
Là một trong hàng nghìn hộ dân trong vùng lựa chọn phát triển kinh tế từ tre Bát độ, chị Sùng Thị Súa ở thôn Khe Ron, xã Hưng Khánh, hiện đang có 3 ha tre phấn khởi chia sẻ, có doanh nghiệp thu mua sản phẩm, người dân rất yên tâm để chăm sóc, khai thác và mở rộng diện tích tre măng.
Mối liên kết giữa vùng nguyên liệu với chế biến càng có ý nghĩa đối với cây dược liệu - nhóm sản phẩm đòi hỏi quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng chặt chẽ. Tại phường Sa Pa và xã Tả Phìn hiện đã hình thành vùng Atiso khoảng 50 ha.
Kết quả trên có sự đồng hành của Công ty TNHH Một thành viên Traphaco Sa Pa. Từ khâu sản xuất, kiểm soát chất lượng đến thu mua, bao tiêu và chế biến của doanh nghiệp đã giúp người dân yên tâm gắn bó với cây trồng. Hiệu quả từ sự gắn kết đó, sau khi trừ chi phí, mỗi ha dược liệu atiso mang lại thu nhập khoảng 70 - 100 triệu đồng/năm cho các hộ dân vùng cao.

Sự gắn kết giữa chế biến và vùng nguyên liệu còn được thể hiện rõ đối với các vùng chè, quế và rừng trồng. Hơn 16.082 ha chè, 391.800 ha rừng trồng và 146.800 ha quế hiện nay chính là dư địa lớn để phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản.
Từ hàng trăm nhà máy, cơ sở chế biến tại các địa phương đã tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị như: chè xanh, chè đen, chè ô long, chè túi lọc, các sản phẩm chiết xuất từ trà; gỗ bóc, ván thanh; vỏ quế, quế ống, quế sáo, tinh dầu và nhiều sản phẩm khác. Trong đó, nhiều sản phẩm đạt chuẩn OCOP, có mặt tại thị trường trong nước và xuất khẩu.
Đơn cử tại xã Xuân Quang với hơn 6.650 ha rừng sản xuất, trong đó, quế chiếm hơn 3.917 ha, đang cung cấp nguyên liệu cho hơn 20 cơ sở chế biến lâm sản. Là một trong những cơ sở chế biến tại địa phương, Công ty Chế biến xuất khẩu Lâm sản TLC mỗi tháng thu mua khoảng 2.000 tấn phế phẩm để sản xuất 800 - 1.000 tấn viên nén.
Theo ông Tạ Hồng Thanh - Giám đốc công ty, việc đầu tư nhà máy không chỉ góp phần tận dụng nguồn phế phẩm từ rừng mà còn khai thác tốt hơn tiềm năng nguyên liệu, nâng giá trị từ rừng.
Việc chế biến gắn với vùng nguyên liệu đã nâng cao giá trị nông sản của Lào Cai, đồng thời phát triển vùng nguyên liệu theo hướng bền vững. Qua đó, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân, tăng nguồn thu ngân sách, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội tại mỗi địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, để hình thành những chuỗi giá trị bền vững, vẫn còn "điểm nghẽn" cần tháo gỡ.
Thực tế, phần lớn cơ sở chế biến trên địa bàn có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và công nghệ còn hạn chế, dẫn đến nhiều sản phẩm vẫn chủ yếu dừng ở khâu sơ chế, chế biến sâu chưa nhiều. Điều này khiến giá trị gia tăng của nông sản chưa tương xứng với tiềm năng nguyên liệu.

Trong khi đó, sản xuất nguyên liệu ở một số nơi còn nhỏ, phân tán; chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều, nguồn cung thiếu ổn định, thường chịu tác động bởi thời tiết, thiên tai và thị trường.
Liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật chặt chẽ. Đầu ra cũng chưa thật sự bền vững khi sản phẩm còn phụ thuộc vào những thị trường xuất khẩu nhất định...
Để biến lợi thế nguyên liệu thành giá trị, đòi hỏi các doanh nghiệp tiếp tục mạnh dạn đầu tư công nghệ, nâng tỷ lệ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Đối với vùng nguyên liệu, người dân, tổ hợp tác, hợp tác xã phải tổ chức lại sản xuất, nâng chất lượng, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định.
Đặc biệt, là vai trò của các ngành và chính quyền địa phương. Không chỉ đưa chính sách hỗ trợ sản xuất đến với người dân, chính quyền cần chủ động tổ chức lại sản xuất, rà soát và phát huy lợi thế, hình thành vùng nguyên liệu phù hợp; làm "cầu nối" giữa doanh nghiệp với hợp tác xã và người sản xuất, đồng thời kịp thời tháo gỡ vướng mắc về đất đai, thủ tục, hạ tầng, vốn, cũng như hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho cơ sở sản xuất và doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, người dân yên tâm sản xuất, chính quyền đồng hành tháo gỡ khó khăn, những chuỗi giá trị mới sẽ được nối dài, đồng thời tạo thêm việc làm cho người dân địa phương; nâng cao giá trị nông sản Lào Cai được nâng tầm trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/nang-tam-nong-san-post910438.html

