Vì sao 'giấy rách' vẫn phải 'giữ lấy lề'?
“Giấy rách phải giữ lấy lề” dùng chữ “lề” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vừa chỉ phần mép giấy được chừa lại, vừa hàm ý giữ gìn nề nếp, phẩm hạnh trong hoàn cảnh khó khăn.

"Giấy rách phải giữ lấy lề" là câu thành ngữ khuyên người ta giữ lấy nề nếp dù trong hoàn cảnh khó khăn. Ảnh minh họa: Medium.
Trong Tiếng Việt từ lời ăn tiếng nói người Việt , nhà nghiên cứu Lê Minh Quốc chỉ ra từ “lề” xuất hiện trong nhiều cách nói quen thuộc như “Đất lề quê thói”, “Đất có lề, quê có thói” hay “Giấy rách phải giữ lấy lề”. Ông dẫn lời nhà nghiên cứu Nhất Thanh, “quê”, “thói” vốn là những từ thuần Việt nhưng dần ít được dùng trong cách diễn đạt văn vẻ, thay vào đó là từ “phong tục”.
Trong Đất lề quê thói , Nhất Thanh cho rằng “lề thói” mang nghĩa gần với phong tục, tức những nếp sống và tập quán đã được hình thành, duy trì trong cộng đồng. Việt Nam tự điển (1931) cũng giải thích “lề thói” là “tục lệ”.
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999), “Giấy rách phải giữ lấy lề” được hiểu theo nghĩa bóng là dù rơi vào hoàn cảnh khó khăn, con người vẫn cần giữ nề nếp, phẩm hạnh và những truyền thống tốt đẹp vốn có.
Tuy nhiên, chữ “lề” trong câu tục ngữ còn có một cách hiểu rất cụ thể, gắn trực tiếp với tờ giấy. Khi viết trên giấy, người ta thường chừa lại một khoảng trống ở mép trang, gọi là lề. Khoảng này không chỉ giúp trang giấy ngay ngắn mà còn có tác dụng khi nhiều tờ được đóng lại thành sách, thành tập.
Việt Nam tự điển ghi nhận một nghĩa của “lề” là “dây xe dùng để đóng sách”, đồng thời có cách nói “Xé lề đóng sách”. Từ đó, “giấy rách” nhưng còn “lề” vẫn có thể được hiểu là những trang giấy dù không còn nguyên vẹn nhưng vẫn còn giữ được kết cấu của một quyển sách. Giấy mà không còn lề thì chỉ là mớ giấy lộn.
Chính sự đồng âm này tạo nên cách nói thú vị của câu tục ngữ. “Giấy rách” là nghĩa đen, còn “giữ lấy lề” được chuyển sang nghĩa bóng, chỉ việc giữ gìn nề nếp và phẩm hạnh. Theo cách hiểu ấy, một người dù rơi vào cảnh túng thiếu hay khó khăn đến đâu vẫn không nên vì thế mà đánh mất những chuẩn mực vốn có.
“Lề” còn xuất hiện trong một số cách dùng xưa. Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của ghi nhận các từ như “hằng lề”, “lề luật”, “lề lối”. Người miền Nam trước đây cũng dùng “làm cho qua tang lề” để chỉ cách làm qua loa, đại khái, làm cho có lệ.
Nguồn Znews: https://znews.vn/vi-sao-giay-rach-van-phai-giu-lay-le-post1685923.html
