Thuốc trừ cỏ - Hiểm họa khôn lường
'Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn', lâu nay cỏ dại đã được xem như một trong những nhân tố hàng đầu gây thất thu năng suất cây trồng. Để xử lý vấn đề này, hiện nay, đa phần nông dân sử dụng thuốc trừ cỏ. Nó như một thứ 'bùa phép' vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi, nhanh chóng để biến những đám cỏ rộng lớn, xanh tươi trở nên cháy khô chỉ sau một thời gian ngắn. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc trừ cỏ trong sản xuất đang dấy lên mối lo ngại sâu sắc về những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến môi trường, đến chất lượng nông sản cũng như sức khỏe của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp.

Nông dân phun thuốc trừ cỏ trước khi gieo trồng vụ mới.
Kỳ 1: Thực trạng đáng báo động
Sử dụng tràn lan
Nói đến thành phố Tam Điệp, người ta nghĩ ngay đến một vùng sản xuất dứa trù phú với diện tích và sản lượng đứng đầu cả nước. Tuy nhiên, cũng tại đây, thuốc trừ cỏ đang bị lạm dụng, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng có thể bắt gặp hình ảnh những lối đi, ruộng, bờ ruộng nhuốm đều một màu vàng úa, chỗ nào để lâu thì chuyển thành màu đen – đây chính là hệ quả sau khi nông dân phun thuốc trừ cỏ.
Với người trồng dứa, chuyện ấy chẳng có gì lạ bởi năm nào cũng như năm nào, cứ thu hết 2 vụ quả là họ phun một lượt thuốc cỏ cháy để tất cả những gì còn sót lại trên ruộng từ cây dứa đến cỏ dại đều chết hết. Sau đó, để một thời gian cho mọi thứ khô hết, họ bắt đầu đốt, dọn ruộng, trồng vụ mới, rất đơn giản và nhanh gọn. Đó là việc dọn ruộng còn trong quá trình chăm sóc thì sao, trả lời câu hỏi này, một nông dân cho biết: “Trồng xong 1-2 tháng thì bắt đầu phun thuốc trừ cỏ, cứ có cỏ là phun. Đặc biệt, vào các đợt mưa nhiều, cỏ lên nhanh thì phải phun liên tục. Việc làm cỏ bằng tay chỉ thực hiện ở trong ruộng dứa”.
Câu chuyện trên là ở vùng đất đồi, còn tại các vùng trồng màu và lúa nước việc sử dụng thuốc trừ cỏ cũng đang tăng dần theo thời gian. Gia đình ông Lê Văn Hiệu, HTX Yên Lạc, xã Khánh Hồng, huyện Yên Khánh có 5 sào đất màu và hơn 3 sào lúa. Trước đây, để ngăn cỏ mọc, mỗi vụ ông phải mất cả chục công đi nhổ, vạc mới hết. Thế nhưng vài năm trở lại đây, trên cây màu, sau khi xuống giống, lên luống, lấp đất xong, ông phun ngay thuốc trừ cỏ.
Trên ruộng lúa, từ khi chuyển từ việc gieo mạ, cấy sang hình thức gieo thẳng, ông không thể không dùng thuốc trừ cỏ. Cứ sau khi gieo 1-3 ngày thì phun thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm, sau đó nếu cỏ vẫn mọc nhiều thì lại mua thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm sớm về phun tiếp. Thậm chí, có năm cỏ nhiều, lúc lúa đã đứng cái nằm đòng rồi, ông vẫn phải tìm các loại thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm muộn về xử lý lần thứ 3. Giống như ông Hiệu, hiện nay, hàng nghìn hộ nông dân khác trên địa bàn tỉnh cũng đang làm theo cách trên để xử lý cỏ dại.
Ngoài sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, hiện nay, thuốc trừ cỏ còn được sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp như diệt bèo tây trên các tuyến kênh mương, diệt cỏ ven đường giao thông, đường tàu, diệt cỏ trong các khu dân cư... Có không ít trường hợp, để tăng hiệu quả diệt cỏ, người dân còn tăng nồng độ thuốc khi phun và sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc nằm trong danh mục cấm lưu hành, sử dụng. Thực trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ trên trên địa bàn tỉnh đã đến mức báo động.
Những con số giật mình
Theo Bộ Nông nghiệp &PTNT: Thuốc trừ cỏ hóa học ra đời vào năm 1940 nhưng chính thức được thương mại hóa và sử dụng phổ biến vào năm 1976. Việt Nam cho phép sử dụng thuốc trừ cỏ rất muộn (năm 1995) so với nhiều nước. Tuy đi sau nhưng mức độ sử dụng thuốc diệt cỏ của nông dân Việt Nam lại tăng nhanh nhất thế giới. Khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV); trong đó, thuốc trừ cỏ chiếm 48%, tức là khoảng 19 nghìn tấn. Việc sử dụng thuốc BVTV nói chung và thuốc trừ cỏ nói riêng ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, không đúng kỹ thuật.
Tại Ninh Bình, Chi cục Trồng trọt & BVTV (Sở Nông nghiệp & PTNT) cho biết: Những năm 2005-2010, lượng thuốc trừ cỏ trên địa bàn tỉnh sử dụng không nhiều, chủ yếu là thuốc trừ cỏ không chọn lọc. Tuy nhiên từ năm 2014 đến nay, lượng thuốc trừ cỏ sử dụng tăng nhanh.
Nếu như năm 2012, lượng thuốc trừ cỏ nông dân toàn tỉnh sử dụng chỉ vào khoảng 9 tấn, thì 5 năm sau, năm 2017 đã tăng lên hơn 2 lần (khoảng 20 tấn). Nguyên nhân là do thiếu hụt nguồn lao động trong nông nghiệp nên phải sử dụng thuốc trừ cỏ để trừ cỏ nhanh, giảm ngày công. Kết hợp với các ưu điểm như chi phí thấp và tiện lợi mà trừ cỏ bằng thuốc ngày càng được ưu tiên lựa chọn.
Ngoài ra, những thay đổi trong phương thức canh tác lúa, chuyển dần từ cấy sang gieo thẳng cũng khiến lượng thuốc trừ cỏ sử dụng ngày một tăng. Nếu như năm 2011, diện tích gieo thẳng toàn tỉnh có hơn 3 nghìn ha (chiếm khoảng 4%) thì đến nay đã là 34 nghìn ha (chiếm 44,2%).
Trong khi đó, quy trình canh tác lúa gieo thẳng bắt buộc phải phun thuốc trừ cỏ. Bà Đinh Thị Thao, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt &BVTV tỉnh cho biết thêm: Vụ mùa, thường xuyên xuất hiện các đợt mưa lớn khiến nhiều diện tích lúa phải gieo đi gieo lại nhiều lần, đi cùng với đó là số lần sử dụng thuốc trừ cỏ tăng lên.
Đặc biệt một bộ phận nông dân còn sử dụng thuốc trừ cỏ chưa theo nhãn thuốc, chưa đúng kỹ thuật, còn tăng nồng độ, liều lượng, phun chưa đúng thời điểm dẫn đến phải phun thuốc trừ cỏ nhiều lần, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người phun thuốc, sức khỏe cộng đồng và ô nhiễm môi trường sinh thái.
Bài, ảnh: Hà Phương
(Còn nữa)
Nguồn Ninh Bình: http://baoninhbinh.org.vn/thuoc-tru-cohiem-hoa-khon-luong-20190607081236582p0c2.htm
