Miền Tây đón lũ đẹp
Những ngày qua, nước từ thượng nguồn Mê Kông đổ về miền Tây ngày một nhiều. Tại Tân Châu, đầu nguồn sông Tiền, mực nước lên cao, vượt báo động 1; trên sông Tiền, sông Hậu, con nước mang theo phù sa và nguồn lợi tự nhiên về với đồng bằng. Ở nhiều nơi, người dân chủ động đón lũ theo kế hoạch, vừa bảo đảm an toàn sản xuất vừa đưa nước vào đồng ruộng để cải tạo đất, chuẩn bị cho những mùa vụ mới.
Mở mùa sản xuất
Với Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), đón lũ hôm nay không chỉ là câu chuyện ứng xử với một hiện tượng tự nhiên. Đằng sau con nước là cách tiếp cận mới về phát triển, trong đó thiên nhiên không chỉ được xem là đối tượng cần kiểm soát mà còn là nguồn lực cần được tôn trọng, bảo vệ và khai thác hợp lý.
Sống chung với lũ từ lâu đã trở thành một phần trong lịch sử khai phá và sản xuất của ĐBSCL. Nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, cách ứng xử với nước lũ đang thay đổi. Thay vì tìm cách ngăn nước ở mọi nơi, nhiều địa phương xác định nơi nào cần bảo vệ, nơi nào có thể tiếp nhận nước và nơi nào có thể tổ chức sản xuất phù hợp với nhịp nước.
Đó cũng là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết xác định phát triển vùng phải dựa trên việc tôn trọng quy luật tự nhiên, lựa chọn mô hình thích ứng với tự nhiên, sống chung với lũ, mặn, hạn, thiếu nước; đồng thời khai thác lợi thế tự nhiên nhưng phải duy trì, bảo vệ và tôn tạo hệ sinh thái.

Ngư dân đầu nguồn sông Hậu giăng đáy bắt cá linh mùa lũ
Từ tư duy ấy, nước lũ không còn đơn thuần là yếu tố gây ngập cần tránh né. Nếu được điều tiết hợp lý, lũ mang phù sa, vệ sinh đồng ruộng, cải thiện độ phì nhiêu của đất, bổ sung nguồn nước và tạo điều kiện phục hồi các hệ sinh thái ngập nước. Mùa nước cũng mở ra những phương thức sản xuất khác mùa khô, giúp đồng bằng không phải phụ thuộc vào một mô hình canh tác duy nhất quanh năm.
Tại An Giang, tư duy ấy được cụ thể hóa bằng kế hoạch xả lũ có kiểm soát đối với các tiểu vùng sản xuất 3 vụ. Riêng vụ Thu Đông năm 2026, tỉnh dự kiến cho khoảng 41.986ha đất sản xuất nông nghiệp đón lũ, tập trung tại khu vực Tứ giác Long Xuyên và phía tây sông Hậu. Thời gian đón lũ kéo dài từ giữa tháng 8 đến hết tháng 11.
Nước được đưa vào đồng không phải để "bỏ canh tác", mà để đất có thời gian nghỉ, đón phù sa, vệ sinh đồng ruộng, hạn chế sâu bệnh và phục hồi điều kiện canh tác cho những vụ tiếp theo. Ở những vùng thực hiện phương châm sản xuất "2 năm, 5 vụ”, việc xả lũ được tính toán như một phần của lịch sản xuất.
Tại các địa phương đầu nguồn sông Tiền như Tân An, Vĩnh Xương, người dân từng bước hình thành thói quen sản xuất theo con nước. Khi nước rút, đồng ruộng được chuẩn bị tốt hơn cho vụ mới, giúp nông dân giảm áp lực sâu bệnh, tiết giảm chi phí đầu vào và nâng hiệu quả sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Thuận (nông dân xã Tân An, tỉnh An Giang) cho biết, điều người dân quan tâm không phải nước lũ cao hay thấp, mà là con nước có về đúng thời điểm và được tổ chức hợp lý hay không. Từ cách làm ấy, mùa lũ không còn là khoảng thời gian phải tạm dừng sản xuất. Nhiều vùng chủ động bố trí những mô hình phù hợp với điều kiện ngập nước theo mùa như lúa, cá, sen, cây thủy sinh và các mô hình kết hợp.
Kết quả từ Dự án Mekong NbS tại An Giang (Giải pháp dựa vào thiên nhiên tại lưu vực sông Mê Kông) cho thấy, các mô hình dựa vào lũ (trong đó có lúa, cá, sen và du lịch sinh thái) đã được thí điểm trên hơn 235ha. Các vùng duy trì ngập lũ theo mùa ghi nhận lượng phù sa bồi tụ khoảng 3 - 5 tấn/ha, trong khi thu nhập của các tổ, nhóm nông dân tham gia đạt khoảng 50 - 100 triệu đồng. Những con số này cho thấy nếu được tổ chức phù hợp, nước lũ không chỉ tạo giá trị cho đất mà còn có thể tạo giá trị trực tiếp cho người sản xuất.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện (Chuyên gia độc lập về môi trường sinh thái ĐBSCL), điều quan trọng là phải nhìn mùa nước nổi như một phần của hệ thống tự nhiên đã hình thành và nuôi dưỡng đồng bằng qua hàng nghìn năm. Nước lũ mang theo phù sa, mở rộng không gian ngập nước, tạo môi trường cho các loài thủy sinh sinh trưởng và góp phần duy trì các quá trình sinh thái của đồng bằng.
Vì vậy, "đón lũ” không phải là một khẩu hiệu, mà là cách tổ chức lại không gian sản xuất. Nơi nào cần bảo vệ thì phải bảo vệ an toàn; nơi nào có thể tiếp nhận nước thì chủ động mở không gian cho nước; nơi nào phù hợp với sản xuất lúa, cá, sen hoặc các mô hình kết hợp thì tổ chức theo mùa nước.

Nông dân vùng ĐBSCL tổ chức trồng dưa lưới trong mùa lũ
Tư duy này cũng gặp nhau với định hướng mới về tổ chức không gian phát triển được Bộ Chính trị xác định tại Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 28/8/2026. Nghị quyết đặt yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên, môi trường và liên kết vùng, thay vì chỉ nhìn không gian phát triển theo địa giới hành chính; đồng thời nhấn mạnh việc khai thác các không gian phát triển mới phải nằm trong giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường.
Trong sản xuất lúa, An Giang cũng đang chuyển từ tư duy chạy theo sản lượng sang nâng chất lượng, giảm chi phí và giảm phát thải. Vụ Đông Xuân 2025 và 2026, toàn tỉnh xuống giống hơn 503.563ha, năng suất bình quân khoảng 7,61 tấn/ha. Cùng với sản xuất lúa quy mô lớn, tỉnh tiếp tục triển khai Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh, qua đó từng bước thay đổi cách tổ chức sản xuất và gia tăng giá trị trên cùng diện tích.
Như vậy, giữa mùa nước nổi, những cánh đồng miền Tây không hề "ngủ yên". Có nơi tiếp tục sản xuất, có nơi chủ động cho nước vào đồng, có nơi chuyển sang những mô hình dựa vào lũ. Mỗi cách làm đều hướng đến mục tiêu biến lợi thế tự nhiên thành nguồn lực phát triển thay vì chỉ xem tự nhiên là yếu tố phải đối phó.
Khai thác sản vật
Mùa nước nổi về cũng là lúc những sản vật đặc trưng của đồng bằng theo con nước tìm về. Từ những cánh đồng ngập nước, bờ kênh, lung bàu đến các tuyến sông, người dân bắt đầu vào mùa khai thác cá đồng, cua, ốc, rau thủy sinh và nhiều sản vật tự nhiên khác. Với cư dân vùng đầu nguồn, đó không chỉ là món quà của thiên nhiên mà còn là nguồn thu nhập được chờ đợi sau những tháng ngày sản xuất trên đồng ruộng.

Cá linh được thương lái đưa đi tiêu thụ
Ở xã Thường Phước 1 (tỉnh Đồng Tháp), ông Nguyễn Văn Dễ đã nhiều năm gắn bó với mùa nước nổi. Khi con nước lên, người dân chuyển sang đánh bắt cá đồng, đặt lờ, giăng lưới, bắt cua, ốc và thu gom sản vật theo nước. "Mùa nước nổi cực nhưng vui. Có con nước là có cá, có rau đồng, có thêm việc làm. Người dân mình quen rồi, nước về thì tranh thủ làm ăn, chứ không ngồi chờ nước rút", ông Dễ chia sẻ.
Tại xã Vĩnh Xương (tỉnh An Giang), ông Lê Văn Thành cho biết con nước về luôn kéo theo sự thay đổi trong cách làm ăn của người dân. Nước lên, cá tôm theo dòng vào kênh rạch, đồng ruộng; người dân có thêm nguồn thực phẩm và thu nhập. Cùng với khai thác sản vật tự nhiên, các hợp tác xã và doanh nghiệp đang đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, biến lợi thế nguồn nước thành ngành sản xuất có tổ chức.
Còn tại An Giang, năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tổng sản lượng thủy sản khoảng 1,66 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng trên 1,2 triệu tấn; đồng thời thúc đẩy liên kết giữa vùng nuôi, doanh nghiệp chế biến và thị trường, từng bước chuyển thủy sản từ sản xuất nhỏ lẻ sang chuỗi giá trị có khả năng tạo giá trị gia tăng cao hơn.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Ngô Công Thức trong chuyến khảo sát sản xuất nông nghiệp và vùng nuôi cá tra giống tại địa phương đã yêu cầu các đơn vị quản lý công trình thủy lợi phối hợp với địa phương vận hành hệ thống cống hợp lý, chủ động tiêu úng và bảo đảm an toàn vùng sản xuất. Dư địa phát triển của nông nghiệp An Giang không chỉ nằm ở việc mở rộng diện tích mà ở cách tổ chức lại sản xuất, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân phải được kết nối thành chuỗi, từ giống, sản xuất đến chế biến và tiêu thụ.

Các địa phương vùng ĐBSCL tổ chức sản xuất trong mùa lũ
Đây cũng là điểm khác biệt giữa "sống chung với lũ” theo kinh nghiệm truyền thống và cách tiếp cận hiện nay. Nếu trước đây người dân chủ yếu tận dụng những gì thiên nhiên ban tặng, thì ngày nay mùa nước được đặt trong một chuỗi sản xuất rộng hơn, có sự tham gia của chính quyền, nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Nghị quyết 27-NQ/TW đặt ĐBSCL trong định hướng phát triển theo hướng sinh thái, tuần hoàn, hiệu quả cao và nhấn mạnh phát triển mạnh kinh tế biển, năng lượng sạch, nông nghiệp hiện đại, dịch vụ, du lịch và logistics. Nghị quyết cũng xác định việc tổ chức không gian kinh tế phải gắn với lợi thế từng tiểu vùng và tăng cường liên kết giữa các địa phương.
Nhìn từ đầu nguồn sông Tiền, mùa lũ đang mang đến cho đồng bằng nhiều giá trị hơn một con nước. Đó là phù sa cho ruộng đồng, nguồn thủy sản cho người dân, môi trường để phát triển các mô hình nuôi trồng và nguyên liệu cho ngành chế biến. Mùa lũ vì thế trở thành mùa làm ăn của người dân ĐBSCL. Người nông dân đón nước để đất được nghỉ, người đánh bắt theo con nước tìm nguồn lợi tự nhiên, người nuôi thủy sản tận dụng điều kiện sông nước để phát triển sản xuất, doanh nghiệp tìm đến vùng nguyên liệu để đầu tư và chế biến. Mỗi người một cách làm, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm, đó là biết biến lợi thế tự nhiên thành giá trị kinh tế.
Đó cũng là vẻ đẹp rất riêng của miền Tây. Nước về không chỉ làm đầy những dòng sông, cánh đồng, mà còn đánh thức một mùa làm ăn. Người dân theo con nước mà mưu sinh, doanh nghiệp theo vùng nguyên liệu mà đầu tư, những sản vật của đồng bằng theo dòng nước mà đi xa. Mùa lũ vì thế không còn chỉ được nhìn như mùa nước lên, mà đang trở thành mùa mở ra thêm cơ hội phát triển cho người dân ĐBSCL.
Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/vu-an/phong-su/mien-tay-don-lu-dep_198488.html
