Làm sạch từ chuồng trại đến đồng ruộng

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, người nông dân không thể chỉ chạy theo năng suất. Tại nhiều trang trại, trên nhiều cánh đồng nhiều hộ nông dân, hợp tác xã đang đổi cách làm để tạo ra những sản phẩm sạch, an toàn, có giá trị cao hơn.

Như nhiều hộ dân khác, nhiều năm qua gia đình ông Nguyễn Văn Thục ở xã Minh Thái (Ninh Bình) chọn chăn nuôi lợn làm sinh kế. Từ quy mô nhỏ ban đầu, đến nay gia đình ông đã phát gây dựng được trang trại rộng hơn 4.000m².

Không chỉ cách xa khu dân cư, được xây tường bao kiên cố, trang trại của ông Thục luôn trong tình trạng “cấm trại” nhằm ngăn chặn nguồn bệnh xâm nhập. Xung quanh các khu chuồng trại ông Thục cho trồng rất nhiều cây dược liệu, cây ăn quả, dựng “hàng rào xanh” cũng với mục đích ngăn chặn bụi bẩn, vi khuẩn xâm nhập. “Cũng giống như con người, nếu được sống trong môi trường sạch sẽ, trong lành lợn sẽ khỏe mạnh, chống chọi với dịch bệnh tốt hơn”- ông Thục nhìn nhận.

Đàn lợn trong trang tại lợn Hiền Thục được cho ăn bằng thức ăn trộn lẫn thảo dược. Ảnh: Duy Hưng

Đàn lợn trong trang tại lợn Hiền Thục được cho ăn bằng thức ăn trộn lẫn thảo dược. Ảnh: Duy Hưng

Trang trại lợn của ông Thục còn đặc biệt ở chỗ chủ nhân không cho lợn ăn cám công nghiệp như thường thấy mà cho ăn bằng một loại cám do ông mày mò tự chế với các thành phần nguyên liệu hoàn toàn từ thiên nhiên, bao gồm: ngô, đậu tương, cá khô, vỏ sò, đặc biệt là có thêm nhiều loại thảo dược như kim ngân, quế chi, thảo quả, hoàng đẳng sâm. Mỗi loại nguyên liệu được ông Thục nghiền nhỏ, bảo quản riêng, phối trộn theo tỷ lệ mỗi khi cho lợn ăn.

Theo ông Thục, mỗi thành phần nguyên liệu đều có công dụng riêng, trong đó cá khô giúp tăng độ đạm, vỏ sò giúp bổ sung canxi, kim ngân hoa giúp thải độc, thảo quả giúp lợn tăng cường tiêu hóa, kháng khuẩn.

Ông cho biết, chi phí mua các loại nguyên liệu trên không cao hơn so với mua cám công nghiệp, nhiều loại thảo dược được thu hoạch ngay tại vườn nhà. Tuy nhiên, nhân lực của trang trại phải mất thêm nhiều công chế biến; thời gian nuôi cũng lâu hơn, để đạt trọng lượng 100kg/con trang trại phải nuôi trong khoảng 6 tháng, lâu hơn nhiều so với cho ăn cám công nghiệp vốn chỉ khoảng 4 tháng đã đạt. Đổi lại, theo ông Thục, được nuôi theo phương pháp thuần sinh học này đàn lợn khỏe hơn, cho thịt săn chắc hơn, phần nạc có màu đỏ tự nhiên, khi chế biến có độ thơm ngon hơn, được khách hàng ưa chuộng, giá bán cũng cao hơn.

Ông Nguyễn Văn Thục, chủ trang trại lợn Hiền Thục ở xã Minh Thái (tỉnh Ninh Bình). Ảnh: Nguyễn Lành.

Ông Nguyễn Văn Thục, chủ trang trại lợn Hiền Thục ở xã Minh Thái (tỉnh Ninh Bình). Ảnh: Nguyễn Lành.

Với nguyên tắc “4 không”: không sử dụng chất cấm, chất kháng sinh, chất tăng trọng và không để kim loại nặng trong chăn nuôi, hiện mỗi tháng trang trại lợn của ông Thục cung cấp khoảng 6 tấn thịt lợn cho 13 trường học ở địa phương, hàng chục cửa hàng tiện ích.Vừa qua, 3 sản phẩm của trang trại gồm thịt sạch, xúc xích, ruốc đều được UBND tỉnh Ninh Bình sếp hạng sản phẩm OCOP.   

Phương pháp chăn nuôi an toàn sinh học, trong đó có phương pháp nuôi lợn bằng thảo dược không hiếm gặp ở Ninh Bình, đang ngày càng được nhân rộng, trở thành hướng sản xuất, với sự tham gia của doanh nghiệp, cơ quan khuyến nông và các hộ dân.

Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Ninh Bình, từ sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, hiện Trung tâm đang phối hợp với Công ty Cổ phần Ba Lửa triển khai dự án phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu “Thịt lợn thảo dược” gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại phường Duy Tân.

Mô hình được triển khai với 260 con lợn thịt tại 2 hộ chăn nuôi. Các hộ được tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn thực hiện quy trình an toàn sinh học và hỗ trợ một phần chi phí con giống, thức ăn, chế phẩm sinh học, vaccine, thuốc tẩy ký sinh trùng, hóa chất sát trùng. Điểm đáng chú ý là khẩu phần ăn được bổ sung các loại thảo dược tự nhiên như bột cúc tần, riềng, rẻ quạt, cỏ sữa nhằm hỗ trợ tiêu hóa, tăng sức đề kháng, hạn chế dịch bệnh và giảm sử dụng kháng sinh. Giun quế cũng được đưa vào khẩu phần như một nguồn đạm tự nhiên.

Cùng với thay đổi thức ăn, các hộ tham gia phải tuân thủ quy trình an toàn sinh học, vệ sinh chuồng trại định kỳ, xử lý chất thải đúng quy định, giữ môi trường nuôi sạch nhằm hạn chế ô nhiễm và nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Sau thời gian triển khai, đàn lợn sinh trưởng tốt, tỷ lệ mắc bệnh giảm, việc sử dụng kháng sinh được hạn chế; thịt được đánh giá có độ săn chắc, thơm ngon. Đặc biệt, nhờ giảm chi phí thuốc thú y, giảm rủi ro dịch bệnh và có doanh nghiệp liên kết tiêu thụ, hiệu quả kinh tế của mô hình cao hơn khoảng 19% so với phương thức chăn nuôi đại trà.

Mô hình chăn nuôi lợn an toàn sinh học đang được tỉnh Ninh Bình nhân rộng. Ảnh: Trung tâm khuyến nông Ninh Bình.

Mô hình chăn nuôi lợn an toàn sinh học đang được tỉnh Ninh Bình nhân rộng. Ảnh: Trung tâm khuyến nông Ninh Bình.

Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Ninh Bình, chăn nuôi an toàn sinh học cần sự thay đổi đồng bộ từ con giống, khẩu phần ăn, chuồng trại, phòng dịch, xử lý chất thải đến tiêu thụ sản phẩm. Khi người chăn nuôi giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh, kiểm soát tốt dịch bệnh và tạo ra sản phẩm có nguồn gốc, chất lượng rõ ràng, giá trị của con vật nuôi cũng được nâng lên. Việc doanh nghiệp tham gia liên kết từ vùng nguyên liệu đến tiêu thụ cũng là yếu tố quan trọng giúp hình thành chuỗi sản xuất - tiêu thụ ổn định.

Ruộng đồng cũng chuyển hướng

Không chỉ trong chăn nuôi, xu hướng sản xuất sạch, hữu cơ, tuần hoàn cũng đang ngày càng rõ nét. Sau mấy năm “đổ” công sức, đến nay vợ chồng anh Hoàng Quốc Toản ở xã Hồng Minh (Hưng Yên) đã gây dựng được khu sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao trên diện tích đất rộng 2 ha, thành lập Hợp tác xã (HTX) nông trại hữu cơ Thái Bình 

Tại đây anh chia thành 3 vùng sản xuất, gồm trồng nấm, nuôi gà thịt, làm nhà màng trồng các loại cây như cà chua bi, nho hạ đen, nho sữa, bông cải xanh, cải bó xôi, xà lách thủy tinh, dưa lưới. Các loại cây này được trồng theo công nghệ cao, sử dụng hệ thống tưới tự động bằng kỹ thuật nhỏ giọt hoặc phun sương. Mỗi vùng sản xuất đều được giám sát chặt chẽ theo nhật ký điện tử, vừa giảm chi phí lao động vừa kiểm soát tốt các yếu tố kỹ thuật, giúp hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Tính tuần hoàn thể hiện rõ khi chất thải từ khu chăn nuôi gà sinh học được xử lý bằng đệm lót sinh học, sau đó trộn với phôi nấm thải để tạo dinh dưỡng, giá thể trồng nho, măng tây, dưa và nhiều loại cây khác trong trang trại.

Anh Hoàng Quốc Toản,  Giám đốc HTX nông trại hữu cơ Thái Bình (xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên) tại vườn nho được sản xuất theo phương pháp hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao. Ảnh: Duy Hưng.

Anh Hoàng Quốc Toản,  Giám đốc HTX nông trại hữu cơ Thái Bình (xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên) tại vườn nho được sản xuất theo phương pháp hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao. Ảnh: Duy Hưng.

Tại HTX nông nghiệp Trọng Quan (xã Nam Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên) hơn 2ha đất trồng táo VC01 Đài Loan, với khoảng 1.400 cây đều được trồng trong 6 nhà lưới. Theo ông Trần Minh Bằng, Giám đốc HTX, toàn bộ quá trình canh tác không sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thay vào đó HTX chăm bón bằng phân vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, hệ thống tưới tự động. Ông cũng cho biết, sản xuất theo phương pháp hữu cơ không chỉ giúp cây táo sống khỏe, ít sâu bệnh mà còn giúp quả táo sạch, thơm, giòn hơn, giá bán cao hơn. Quan trọng hơn, theo ông Bằng, sản xuất hữu cơ đã giúp HTX thay đổi cách nghĩ, từ coi trọng sản lượng sang đặt chất lượng lên trước.

Trong khi đó, HTX Thương mại dịch vụ, kinh doanh lúa gạo Bình Thanh (xã Bình Thanh, tỉnh Hưng Yên) đang duy trì, phát triển mô hình sản xuất lúa hữu cơ kết hợp bảo tồn, khai thác cáy và trồng cau, hình thành mô hình sinh thái ba tầng lúa - cáy - cau trên diện tích gần 10ha. Theo đó, lúa được HTX cấy bằng giống chất lượng cao, không sử dụng hóa chất độc hại; nguồn lợi tự nhiên là con cáy được bảo tồn, khai thác hợp lý để chế biến mắm cáy đặc sản; cây cau được trồng ven bờ ruộng làm nhiệm vụ giữ ẩm, chắn gió, tạo môi trường vi sinh lành mạnh cho đất.

Ông Đặng Văn Quang, Giám đốc HTX cho biết, sản xuất theo hướng hữu cơ, ruộng sạch hóa chất, đất tơi xốp hơn, đặc biệt hệ sinh thái đồng ruộng được khôi phục, mở ra hướng phát triển nông nghiệp tuần hoàn. “Qua theo dõi, từ khi ruộng sạch hóa chất sản lượng cáy tự nhiên tăng gần 10%”, ông Quang cho biết.

Khó phân biệt thật - giả

Mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng nhưng theo anh Hoàng Quốc Toản, Giám đốc HTX nông trại hữu cơ Thái Bình (xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên), những người tiên phong áp dụng sản xuất theo phương pháp an toàn sinh học, hữu cơ phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập, cả những rủi ro. Trong đó, do quy trình khắt khe nên chi phí sản xuất tốn kém hơn, mất nhiều thời gian hơn; khó kiểm soát dịch bệnh hơn, dễ bị lây ô nhiễm từ ruộng đồng liền kề không cùng phương pháp sản xuất dẫn đến năng xuất, sản lượng bấp bênh hơn. Mặt khác, chi phí kiểm định, cấp giấy chứng nhận hữu cơ không nhỏ, thủ tục phức tạp, thường là vượt quá khả năng của nhiều hộ, HTX. Nông sản hữu cơ, sinh học có chất lượng, giá thành cao hơn nên khả năng cạnh tranh về giá kém hơn; người tiêu dùng phổ thông cũng khó phân biệt sản phẩm thật - giả.

Theo ông Đỗ Quý Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là hướng đi bắt buộc. Không chỉ giúp nông nghiệp phát triển bền vững, hướng đi này còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và khẳng định vị thế của nông sản địa phương trên thị trường. Tỉnh sẽ tiếp tục nhân rộng các mô hình điểm, hỗ trợ các HTX trong việc nhận chứng nhận sản phẩm hữu cơ, xây dựng vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường và ứng dụng công nghệ số kiểm soát chuỗi sản xuất, ưu tiên phát triển các sản phẩm địa phương có lợi thế…

Duy Hưng

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/lam-sach-tu-chuong-trai-den-dong-ruong.html