Đọc lại cụ Huỳnh
ĐNCT - Huỳnh Thúc Kháng là nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của thế kỷ XX. “Cả đời cụ Huỳnh không màng danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”. Hiếm có người nào được Bác Hồ đánh giá cao và dành tình cảm đặc biệt như vậy.

Hồ Chủ tịch và Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng trong Chính phủ đầu tiên. Ảnh: Tư liệu
Sự nghiệp chính trị, sáng tác thơ văn nhất là cuộc đời làm báo sôi nổi của Huỳnh Thúc Kháng đã có hàng ngàn bài nghiên cứu, đánh giá. Nhớ hồi chuẩn bị số đặc san Khoa học & Phát triển số 11 (12/2024) số đặc biệt về cụ Huỳnh, tôi có dịp đọc lại các trước tác báo chí của cụ.
Đấy là những bài viết cách đây gần cả trăm năm mà vẫn thấy thấm thía gan ruột. Rất nhiều điều “thu hoạch”, nhưng với tôi sâu sắc và đáng nhớ nhất là các nội dung sau đây.
Nhân cách con người
Trong bài báo Nhân cách (Tiếng Dân, 12/10/1029), cụ Huỳnh viết: Nhân cách là tư cách làm người. Có tư cách mới ra con người, không tư cách tuy mang cái lốt người mà kỳ thiệt không phải người. (các đoạn trích trong bài này được lấy từ “Huỳnh Thúc Kháng Tuyển tập”, NXB Đà Nẵng, 2010).
Điều này hôm qua quan trọng và ngày mai càng quan trọng, mỗi thời có yêu cầu “tư cách” của thời đó, nhưng những đức tính như trung thực, hy sinh, trong sạch… thì là những phẩm hạnh đương nhiên mà một người trong cõi đời này phải có.
Trong nhiều bài báo của mình, cụ Huỳnh thường nêu những gương nhân cách đông tây, kim cổ. Riêng B. Franklin, một thợ in người Mỹ được cụ nhắc tới ba lần. Vì cụ ca ngợi nhân vật này nên tôi tìm đọc Gương danh nhân của Nguyễn Hiến Lê (Hồng Đức, 2018) kể rằng Franklin là người nổi tiếng, ông là tấm gương tự học, là Chủ tịch một Hội Khoa học đầu tiên của một bang ở Mỹ (và của thế giới?), ông là bậc sáng chế đại tài. Việc lớn như phát minh ra cột thu lôi chống sét đánh, nhỏ như làm thí nghiệm chứng minh màu đen hút ánh nắng nhiều nhất… là những phát minh của ông.
Vấn đề không phải Franklin giỏi mà cái chính cụ Huỳnh nhấn mạnh là cách rèn luyện để có một nhân cách tốt. Chuyện kể rằng, Franklin làm một cuốn sổ tay chia thành mười ba tuần, mỗi tuần ông rèn một đức tính mà ông thấy còn thiếu. Mười ba đức đó: Điều độ, Yên lặng, Trật tự, Quả quyết, Thanh đạm, Cần mẫn, Thành thực, Công bằng, Ôn hòa, Sạch sẽ, Bình tĩnh, Trong sạch và Khiêm tốn. Mỗi lần có một hành vi nào đó trái với những đức tính đó ông đánh một dấu đen.
Cứ sau mỗi mười ba tuần, ông lại tổng kết, ông tập trung sửa những chỗ mình chưa làm tốt, cứ thế ông im lặng làm mãi cho đến cuối đời. Qua mấy chục năm, ông nhận ra rằng trong các đức tính đó, trật tự là việc khó thực hiện nhất. Chuyện đơn giản ghi lại những điều mình cần phải hoàn thiện của cuộc đời nhưng mấy người làm được?
Theo cụ Huỳnh, khi nói đến nhân cách một con người, cụ phê phán rất nặng bốn cái “tính di truyền” của dân ta: 1) Lo học để làm quan; 2) Làm quan để ăn đút lót; 3) Là thói a dua người quyền quý và 4) Là coi trọng xác thịt. Riêng điểm này ý cụ là người mình chỉ chăm lo bản thân, lo điều kiện xa hoa mà ít có tư tưởng, ít có chí lớn, nhất là thiếu tính kiên trì.
Thói a dua gắn liền với thói ưa nịnh. Theo cụ Huỳnh thì “trong 100 người thì có tới 99 người ưa nịnh”. Thói xấu này ngoài miệng ai cũng nói ghét nhưng kỳ thực trong lòng thì “ngoài kẻ nịnh mình ra, không có ai là người chân chính”.
Nịnh là thói xấu, ưa nịnh thì càng xấu, nịnh là biểu hiện của người không có nhân cách. Vì vậy một người có tư cách là người biết tránh xa kẻ nịnh, vì “ngàn người dạ dạ không bằng một người nói thẳng”.
Một chi tiết đáng suy ngẫm nữa cho thấy cụ Huỳnh là người đọc nhiều sách báo nước ngoài, tôi nghĩ là những gương danh nhân Âu Tây đương đại cụ đều đọc từ sách báo tiếng Pháp, ta càng bái phục tấm gương tự học và ham đọc của cụ.
Chuyện kể rằng 13 năm bị đày ở Côn Đảo, ngoài việc lao động khổ sai, cụ làm thơ và học ngoại ngữ. Thi tù tùng thoại là tập thơ tù nổi tiếng của cụ, còn trình độ ngoại ngữ hơn người là do cụ tự học tiếng Pháp, chuyện kể rằng mỗi ngày cụ xé một tờ (2 trang) Tự điển Larousse và tự đặt ra chỉ tiêu là phải thuộc hai trang ấy. Ra tù cụ thuộc lòng cả quyển đại từ điển Larosse. Xét theo nghĩa nhà tù là trường đại học thì với 13 năm Côn Lôn, cụ ba lần tốt nghiệp cử nhân hạng ưu tiếng Pháp, có điều nói không giỏi bằng viết, đọc.
“Cái tánh ham làm thi của người Nam ta”
Bài báo này cụ Huỳnh viết năm 1937, tôi giật mình khi đọc về những nhận xét của cụ về cái tánh ham làm thơ. Không biết cái “tánh ham làm thơ” của “người mình” là việc tốt hay không tốt.
Chuyện là nhân một phái đoàn của nước Nam ta chuẩn bị đi đấu xảo (hội chợ) bên Paris, một viên quan Pháp gặp có đề nghị với đoàn nước Nam là: quý ngài khi đến Pháp nhớ xem cách tổ chức đô thị, cách sản xuất kỹ nghệ, cách sinh hoạt… về tìm cách làm ở xứ các ngài, chứ đừng mang về một tập thơ!
Ấy là một lời nhắc mà cụ Huỳnh khi thuật lại lấy làm chua xót, bởi mỗi người dân mình, nhất là các bậc làm quan trước đây mỗi khi đi đâu thường tức cảnh sinh tình, nước non xứ lạ càng dễ ra thơ. Chuyện ấy không sai, không xấu nhưng giờ nên đổi khác. Đi là để nhận ra cái tốt xứ người, để biết cái ở nước mình chưa có mà học cách làm theo. May mà xứ Quảng có một người đi sứ về không làm thơ mà có một bản điều trần rúng động triều đình của Phạm Phú Thứ.
Vậy cái tánh ham làm thơ ấy hay dở thế nào? Dĩ nhiên cụ Huỳnh không phủ nhận vai trò của thơ ca, nhưng cái thú đắm đuối thơ phú mà quên sự thực nước bị đô hộ, dân làm nô lệ là điều cần phê phán, việc đó đã đành, nhưng đáng chê hơn là những người viết chưa rành câu cũng suốt ngày thơ phú.
Cụ trích lại một câu của người Tàu “nhạo người mình”: Sĩ phu Nước Nam ham làm thi, dẫu viết không thành câu cũng cứ làm. Nói nôm na là người mình làm thơ dở “viết không thành câu” nhưng ở đâu cũng thấy làm thơ. Hình như mỗi người Việt Nam ai cũng sẵn sàng là một nhà thơ... dở!
Thỉnh thoảng đọc trên mạng thấy vài người nhấn nhá “Thơ là tiếng lòng, là sự rung động cảm xúc…”, ấy là việc riêng, nhưng đã công bố (dù là trên mạng) thì phải nhớ rằng mình phải tôn trọng người đọc. Thơ dở là sự xúc phạm chữ nghĩa, thơ mượn ý, mượn lời, mượn hình tượng của người khác là tầm thường.
Đọc bài này của cụ Huỳnh mà trăn trở, cái “tánh ham làm thơ” của người mình có từ lâu nhưng sao ít có nhà thơ giỏi, để lại dấu ấn thời mình sống? Trong số hơn 1.200 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay sao chưa có nhiều tác phẩm thật sự hay, thật sự lay động tâm hồn? Không lẽ cái nhận xét: nước mình nhiều người làm thơ nhưng không mấy ai xứng danh thi sĩ lại đúng?
Tiếng Dân
Tiếng Dân là tên do cụ Phan Bội Châu đặt, đây là tờ báo đầu tiên ở Trung kỳ mà Huế bấy giờ là thủ đô. Cụ Huỳnh là chủ nhiệm kiêm chủ bút suốt 16 năm (1927 tới 1943), tuy là báo phát hành hằng tuần nhưng có tác động chính trị to lớn trong suốt một thời gian dài. Cụ Huỳnh là người tổ chức, thành lập công ty “Huỳnh Thúc Kháng” để cung cấp điều kiện, dẫu rằng bản thân tòa soạn suốt 16 năm ấy “trường trai” (nhận nhuận bút tối thiểu).

Cụ Huỳnh làm Chủ nhiệm (người ngồi giữa cầm quạt) chụp tại tòa soạn Báo Tiếng Dân, cũng là trụ sở công ty Huỳnh Thúc Kháng tại Huế. Ảnh: Bảo tàng Đà Nẵng
Phương châm nổi tiếng của Tiếng Dân cũng như của cụ Huỳnh là: nếu không nói được điều nên nói thì cũng không buộc phải nói điều không nên nói, đáng cho hậu thế suy ngẫm. Bối cảnh nước nhà bị đô hộ, triều đình hèn yếu và thẳng tay đàn áp người yêu nước (Trần Quý Cáp người cùng với Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng tạo thành “tam kiệt” lừng lẫy, bị triều đình xử chém) mà cụ đề ra và thực hiện nghiêm chỉnh phương châm ấy suốt 16 năm quả là bản lĩnh kiên cường và tài năng hiếm có.
Cám dỗ vật chất, công danh thời đó với báo chí có lẽ không lớn nhưng áp lực về chính trị thì thật nặng nề, có thể một trong những điều mãn nguyện của cụ Huỳnh là thấy vai trò Tiếng Dân được khẳng định, người nước mình có tiếng nói, nhiều quyền lợi về chính trị, dân sinh được thực hiện sau khi Tiếng Dân lên tiếng quyết liệt.
Nửa đầu thế kỷ XX Quảng Nam có nhiều người làm báo, viết báo nổi tiếng. Tiêu biểu trong số đó là cụ Huỳnh và Phan Khôi, tài văn chương, báo chí, cả ngoại ngữ (chữ Hán và Pháp) của hai ông được người đương thời kính nể, và có lẽ vì giỏi và cả vì… hay cãi nên hai ông không ít lần tranh luận nẩy lửa.
Nhưng điều đáng nghĩ, đáng trân trọng ở hai ông là thái độ tranh luận. Ai cũng biết mỗi khi đưa ra ý kiến phản bác thì phải có lập luận, phải có lý sự và thực tiễn để bảo vệ ý kiến, nhận định của mình. Tuyệt nhiên ở họ không có chụp mũ, kết tội. Việc đúng sai để cho người đọc nhận xét, đánh giá.
Có hai điểm đáng để cho ta suy ngẫm: Họ tuyệt đối tin vào sự phán xét của công luận, đúng sai có một “phán quan” công minh là nhân dân, là bạn đọc, thứ đến là họ tuyệt đối tôn trọng nhau. Trở lại cuộc tranh luận giữa hai cụ trên báo, cụ Huỳnh sau khi phản biện, nói rõ lý lẽ của mình và kết luận: người chỉ ra cái sai cho mình là thầy mình.
Với tôi, tưởng nhớ cụ Huỳnh, chúng ta cần học theo ba điều “cật ruột” (chữ cụ Huỳnh) nói trên cũng là điều thấm thía gan ruột, nhất là trong bối cảnh đất nước chuyển mình hôm nay.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/doc-lai-cu-huynh-3353283.html
