Định giá kinh tế di sản
Mới đây, Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL) tổ chức xin ý kiến về Đề án “Định giá kinh tế di sản, TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới”. Đây là cách tiếp cận đặt di sản trong mối quan hệ với các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm, thay vì chỉ nhìn vào lượng khách hay nguồn thu trực tiếp.

Đề án dự kiến triển khai 8 đề án thành phần tại các di sản, trong đó có Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: TL.
Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới được UNESCO công nhận, bao gồm các di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp. Sau hơn 30 năm thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị, hệ thống di sản thế giới đã trở thành một nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, sinh kế cộng đồng, bảo vệ môi trường, quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế quốc gia.
Việc xây dựng Đề án nói trên nhằm cụ thể hóa định hướng phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn và phát triển bền vững. Theo Đề án, di sản được nhìn nhận như một dạng vốn văn hóa, vốn tự nhiên và vốn xã hội, có khả năng tạo ra các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm trong dài hạn. Vì vậy, lượng hóa Tổng giá trị kinh tế (TEV) không nhằm quy đổi toàn bộ giá trị văn hóa hay giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thành tiền mà nhằm nhận diện và đo lường những lợi ích kinh tế và phúc lợi mà hệ thống tài sản di sản tạo ra cho xã hội.
Đề án dự kiến triển khai 8 đề án thành phần tại: Hoàng thành Thăng Long, Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, Thành nhà Hồ, Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Việc lựa chọn các trường hợp này nhằm kiểm nghiệm khả năng áp dụng Khung TEV đối với những loại hình và cấu trúc di sản khác nhau, từ di sản văn hóa, thiên nhiên đến các hệ thống di sản có tính phức hợp cao.
Tại cuộc họp vừa qua, các chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan, đơn vị và địa phương đã cùng trao đổi về nội dung của Đề án. Các đại biểu cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Đề án; đồng thời, tập trung thảo luận, làm rõ các vấn đề về cơ sở lý luận, khung phương pháp, hệ thống dữ liệu, phạm vi triển khai, khả năng áp dụng và cơ chế tổ chức thực hiện.
Theo TS Nguyễn Thị Quý Phương - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông, khi chủ thể và khả năng khai thác quyền đã rõ, định giá là bước tiếp theo; giá trị của tài sản văn hóa, tài sản trí tuệ phải được nhìn từ khả năng tạo doanh thu, nhu cầu thị trường và năng lực tổ chức khai thác. Vậy nên, muốn định giá đúng phải nhìn được cả chuỗi tạo giá trị. Một mức doanh thu từ bán vé có thể phản ánh một phần giá trị sử dụng trực tiếp của di sản. Nhưng nếu du khách lưu trú thêm một đêm vì muốn tham quan di sản, chi tiêu tại nhà hàng, mua sản phẩm thủ công, tham gia một chương trình trải nghiệm; nếu một không gian di sản tạo việc làm cho người dân; nếu một câu chuyện lịch sử trở thành chất liệu cho phim, thiết kế, trò chơi hay sản phẩm giáo dục, thì những giá trị ấy cũng cần được nhận diện trong bức tranh tổng thể.
TS Lê Tùng Sơn, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, cần có khả năng kết nối các khâu từ tài sản, quyền khai thác, định giá, vốn đến thị trường. Với di sản, điều đó càng cho thấy định giá không thể chỉ là phép tính cuối cùng. Đằng sau một con số phải là hệ thống dữ liệu, phương pháp đo lường và khả năng giải thích con số ấy được hình thành từ đâu. Cùng đó, định giá không nên được hiểu là đặt một “giá bán” cho di sản. Cùng với đó là yêu cầu cao hơn về quản lý: Mô hình khai thác nào phù hợp? Mức độ khai thác đến đâu là hợp lý? Nguồn thu có thể quay trở lại bảo tồn như thế nào? Người dân sống trong không gian di sản được hưởng lợi ra sao?
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/dinh-gia-kinh-te-di-san.html
