Cái Cọc Đất: Hồn quê trong đá tảng

Cục đá xanh này có lẽ không còn mấy ai nhận ra nó thực sự để làm gì. Thực tế, nó đã không được sử dụng từ lâu.

Từ hơn trăm năm trước, chức năng chính của nó là làm cột mốc phân định ranh giới đất. Nó từng đóng vai trò là bằng chứng vật chất quan trọng về quyền sở hữu đất đai, cơ sở pháp lý để lập bản đồ địa chính. Theo các tài liệu về việc quản lý đất đai thời nhà Nguyễn, từ năm 1836 ranh giới đất đai 6 tỉnh Nam kỳ được xác định bởi các tài sản liền kề và đánh dấu vật lý, trong đó là các cột đá granit đẽo từ đá xanh Biên Hòa.

Đến thời thuộc Pháp, chính quyền quy định khi phân định ranh giới, các nhà khảo sát địa chính cùng người nộp đơn và các hộ hàng xóm liền kề được yêu cầu phải cắm các mốc bằng đá tiêu chuẩn tại mỗi đỉnh của ranh giới thửa đất trước khi tiến hành trắc địa.

Từ hơn trăm năm trước, chức năng chính của cọc đất là phân định địa giới. 

Từ hơn trăm năm trước, chức năng chính của cọc đất là phân định địa giới. 

Anh Lê Văn Thảo ở phường An Phú Đông (TP.HCM) gửi ảnh cái cột mốc bằng đá này ở đất nhà, nơi cư ngụ lâu đời của gia đình anh trên đất Gia Định xưa. Anh cho biết, tên gọi phổ biến của nó là “cái cọc đất” hay còn gọi “trụ đất”, đã có trên đất của gia đình gần cả trăm năm từ thời Pháp thuộc. Bây giờ, nó không còn giá trị sử dụng vì chính quyền xác định ranh giới đất đai bằng bản vẽ và tọa độ. Tuy vậy, thỉnh thoảng đến vài nơi ở ngoại thành, nhất là Củ Chi, anh vẫn thấy nó tồn tại ở một vài thửa đất. Nghĩa là những cọc đất này có ở đó từ xưa giờ, đất không có xáo trộn và còn làm nông, không có mua bán nên thực địa không biến động.

Thực tế, cọc đất vẫn được sử dụng cho đến đầu thập niên 1980, sau đó đất đai của nhiều người bị “dồn điền đổi thửa” xóa bỏ ranh giới riêng, vai trò những chiếc cọc không còn được coi trọng. Đến thời “mở cửa”, đất đai có giá, nhiệm vụ của chiếc cọc đất xưa chính thức dừng bước mà nhường chỗ cho những chiếc cọc bê tông kiên cố, đo bằng máy, canh tọa độ… Sau này khi đổ mặt bằng, nhiều người không quan tâm nên bị chôn lấp hết.

Cái cọc này, ngày xưa đục đẽo thủ công nên hình dáng không giống nhau. Hình thù cọc đất khá đơn giản: dài chừng 5 đến 6 tấc, có một đầu nhọn một đầu bằng, chiều ngang cọc chừng hai tấc. Khi chôn cọc xuống bốn góc đất, phần nhọn đưa lên chừng 3 - 4 tấc. Nó được đưa xuống rồi lấp đất, không đổ xi măng hay chèn đá nên lâu lâu cọc bị nghiêng hoặc lún sâu, phải dựng lại.

Một cái cọc được dựng đơn giản vậy, nhưng suốt nhiều trăm năm, hầu như ai ai trong làng đều gìn giữ cái cọc này. Anh Thảo kể là hồi nhỏ luôn được má anh dặn: “Đái lên cọc này là điều không nên!”. Người thời ấy xem cọc đất là thiêng liêng, là cam kết về quyền sở hữu đất đai của ông bà để lại nên việc xê dịch cọc hay không giữ gìn sạch sẽ cọc đất là không đúng. Người trong làng còn dặn nhau không nên đem cọc vào nhà (?). Thời chiến tranh loạn lạc, sau nhiều năm tản cư, nhiều người về lại đất mình thấy cọc đất vẫn nằm chỗ cũ, im lìm phân định miếng đất của con người.

Cọc đất trên vườn nhà anh Lê Văn Thảo ở phường An Phú Đông (TP.HCM) đã có từ thời Pháp thuộc.

Cọc đất trên vườn nhà anh Lê Văn Thảo ở phường An Phú Đông (TP.HCM) đã có từ thời Pháp thuộc.

Sau này nghĩ lại, anh Thảo cho là đằng sau những điều răn dân gian đó là ý thức của cộng đồng về việc gìn giữ ranh giới đất. Trong đó, có nguyên nhân từ lối sống luôn xem trọng tình nghĩa, mọi ranh giới được xác định rõ ràng thì sẽ tránh được chuyện mất lòng hay mâu thuẫn nhỏ biến thành lớn dẫn đến đổ máu như đã từng xảy ra ở nhiều nơi, vì đối với người dân, miếng đất chính là cơm áo, là cuộc sống và cũng là những gì thiêng liêng truyền lại từ tổ tiên. 

Anh Thảo thỉnh thoảng vẫn tìm được những cọc đất bằng đá xanh. Có cái mang trên thân vết mẻ khi nằm trong cỏ, bị phảng của người làm đất phát trúng. 

Với anh, cọc đất bằng đá xanh Biên Hòa chất chứa hồn đất quê hương. Nó từng chứng kiến bao đổi thay của quê hương từ thời tổ tiên, ông bà của anh đến nay.  

Bài: Phạm Công Luận - Ảnh: Lê Văn Thảo

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/cai-coc-dat-hon-que-trong-da-tang-53821.html