Qua đèo Ngang

Hơn 200 năm trước, trên đường thiên lý vào Nam, khi dừng chân trên đỉnh đèo Ngang, cảm xúc giữa trời, mây, non, nước..., Bà Huyện Thanh Quan đã gửi lại cho hậu thế một thi phẩm để đời: “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà/Cỏ cây chen đá, lá chen hoa/Lom khom dưới núi, tiều vài chú/Lác đác bên sông, chợ mấy nhà/Dừng chân đứng lại, trời non nước/Một mảnh tình riêng, ta với ta”. Hơn 200 năm sau, đứng trên đỉnh đèo Ngang, bên Hoành Sơn quan sừng sững thi gan cùng tuế nguyệt-nơi được xem là mốc giới giữa hai tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh, thấy non nước đang đổi thay từng ngày.

Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn chép rằng: “Núi Hoành Sơn ở cách huyện Bình Chính 42 dặm về phía Đông Bắc, giáp địa phận huyện Kỳ Anh, tỉnh Nghệ An (bây giờ là tỉnh Hà Tĩnh), một dải núi từ xa ở phía Tây dăng dài mà đến, ngọn chỏm chồng chất, kéo ngang ra đến biển, trông cho bức trường thành…”.

Trong quá khứ, đèo Ngang gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của quốc gia, dân tộc. Năm Ất Tỵ (1545), khi Nguyễn Kim bị mưu sát, Trịnh Kiểm được vua Lê lựa chọn lo việc triều chính. Để thâu tóm vương quyền, Trịnh Kiểm tìm cách loại trừ phe cánh Nguyễn Kim. Khi Nguyễn Uông, người con đầu Nguyễn Kim bị ám hại, người con thứ Nguyễn Hoàng sai người đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Trình ban cho 8 chữ “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Nghe theo lời khuyên này, Nguyễn Hoàng vượt đèo Ngang, qua dãy Hoành Sơn vào trấn thủ xứ Thuận Hóa, lập nên cơ nghiệp tại xứ Đàng Trong.

Trên đỉnh đèo Ngang, Hoành Sơn quan, cửa chính của quan ải án ngữ đường thiên lý Bắc-Nam gần 200 năm nay trở thành chứng nhân lịch sử, dấu ấn văn hóa về một vùng đất đầy biến động hai bên mái đèo Ngang. Theo tiến sĩ sử học Nguyễn Khắc Thái, Hoành Sơn Quan là một trong năm công trình kiến trúc quân sự do vua Minh Mạng xây dựng tại tỉnh Quảng Bình xưa, trong đó bốn công trình bảo vệ thủ phủ hành chính tỉnh gồm thành Quảng Bình, Quảng Bình quan (1824), Cầu Dài (1825) và Võ Thắng quan (1827); năm Minh Mạng thứ 14 (1833), triều đình tiếp tục xây dựng Hoành Sơn quan trên đỉnh Hoành Sơn, thuộc huyện Bình Chính (xã Phú Trạch ngày nay).

“Hoành Sơn quan xây bằng đá, dài 11 trượng 8 thước, cao 18 thước; khoảng giữa là cửa ải, hai bên tả hữu đắp tường dài 12 trượng 2 thước, cao 4 thước; phía sau thành đắp phụ thêm dài 12 trượng 2 thước. Khảo sát phần còn lại của di tích hiện nay tại Hoành Sơn cho thấy diện mạo tòa quan ải này có ngôn ngữ kiến trúc rất ấn tượng, quy mô bề thế. Tòa quan ải hướng mặt ra phía Bắc, trên khắc hàng đại tự “Hoành Sơn quan” làm biển hiệu đề danh. Các chi tiết trang trí kiến trúc đều ở mặt ngoài. Vòm ải có cấu trúc hai cánh cửa gỗ định vị bằng chốt đứng, quay gập vào tường thành của vòm cửa để tạo không gian thông quan. Cửa đóng khóa bằng cách đẩy từ trong ra, khép lại ở mặt ngoài, nơi có mép gờ vững chắc để định vị, giúp không bị trượt ra phía ngoài, nối liền với mặt ngoài của tường chắn thẳng đứng thành hệ thống chặn việc thông quan. Cửa cài bằng hai thanh gỗ lim cài ở hai vị trí trên và dưới cánh cửa mặt trong. Khi muốn mở cửa thông quan, phải mở từ bên trong”, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Thái giới thiệu về di tích Hoành Sơn quan.

Trong những ngày trải nghiệm tại vùng đất đèo Ngang và di tích lịch sử Hoành Sơn Quan, chúng tôi gặp ông Lê Huy Hoàng (SN 1955), nguyên Bí thư Đảng ủy xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch cũ (nay là xã Phú Trạch) giai đoạn 1986-1991. Với Hoành Sơn Quan, ông Hoàng có thể nhắm mắt lại, đặt bàn tay lên từng viên gạch cổ... cứ thế dòng ký ức lịch sử đã cuộn trào. “Cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn canh cánh trong lòng một câu hỏi vì sao cùng một Hoành Sơn quan mà cả phía Quảng Bình trước đây và Quảng Trị bây giờ với Hà Tĩnh đều công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh? Sao không “bắt tay nhau” để vun đắp, xây dựng Hoành Sơn quan thành di tích lịch sử cấp quốc gia như cách ứng xử của TP. Huế và Đà Nẵng đối với Hải Vân quan? Nếu được như thế, mạch nguồn của hệ sinh thái lịch sử, văn hóa, tâm linh Hoành Sơn sẽ trường tồn, phát huy mãi mãi cùng thời gian”.

Theo chân ông Lê Huy Hoàng, chúng tôi đã có khoảng thời gian trải nghiệm khắp một dãy Hoành Sơn, ghi lại dấu tích của hệ thống Lâm Ấp cổ lũy gần 2.000 năm tuổi; tuyến đường bộ vượt Hoành Sơn do Ngô Tử An xây dựng hơn 1.000 năm tuổi; hai ngôi đền thờ Liễu Hạnh Công chúa nằm ở cả hai bên mái đèo Ngang thuộc xã Hoành Sơn (Hà Tĩnh) và xã Phú Trạch (Quảng Trị)... rồi xuôi về Vũng Chùa, Đảo Yến, nơi dãy Hoành Sơn vươn ra sát bờ biển Đông, cũng là nơi an nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ở xã Phú Trạch, giữa điệp trùng “dải núi từ xa ở phía Tây dăng dài mà đến, ngọn chỏm chồng chất...”, có một ngọn thác nguyên sơ, đẹp như tranh vẽ, một biểu tượng kết đoàn giữa hai tỉnh Quảng Trị-Hà Tĩnh mà thiên nhiên tạo tác nên. Cư dân trong vùng gọi là thác Tam Cấp. Thác Tam Cấp khởi nguồn giữa núi rừng Trường Sơn, khi đến dãy Hoành Sơn (địa phận xã Quảng Kim cũ) thì chia làm hai nhánh, nhánh ra Bắc về xã Hoành Sơn, nhánh vô Nam dệt thành thác Tam Cấp. Nhưng dù chảy ra Bắc hay vô Nam, thác Tam Cấp vẫn luôn chung một cội nguồn.

Trong hệ sinh thái lịch sử, văn hóa, tâm linh Hoành Sơn, chúng tôi được “tắm mát” tâm hồn khi trải nghiệm qua từng câu Kiều, điệu ca trù cổ do chính những người dân sinh sống dưới chân đèo Ngang biểu diễn. Ở thôn Kim Sơn, xã Phú Trạch hiện có hai câu lạc bộ (CLB) văn nghệ dân gian, gồm CLB hát Kiều và CLB ca trù với sự tham gia của hơn 30 nghệ nhân.

 “Cuộc sống người dân bên mái Hoành Sơn dẫu còn bộn bề vất vả, khó khăn nhưng vẫn không ngăn được niềm đam mê nghệ thuật hát Kiều, hát ca trù. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, khát vọng giữ gìn văn hóa truyền thống qua hát Kiều, hát ca trù vẫn luôn được các thế hệ cư dân xã Quảng Kim trước đây, xã Phú Trạch bây giờ bảo tồn, gìn giữ, phát huy. Bởi chúng tôi hiểu rằng từng câu Kiều cổ, từng làn điệu ca trù là linh hồn, cốt cách, là dòng chảy văn hóa mạch nguồn không bao giờ khô cạn dọc dãy Hoành Sơn”, ông Chu Văn Phú, Trưởng thôn Kim Sơn, xã Phú Trạch tâm niệm.

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/multimedia/emagazine/202611/qua-deo-ngang-9d32074/