Mỹ Đà - “hồn quê” còn mãi

Bao quanh bởi đồng ruộng bát ngát, Mỹ Đà - ngôi làng có lịch sử lập dựng từ cả nghìn năm về trước. Trong không gian làng quê Mỹ Đà, từ quá khứ xa xưa đến hôm nay, lịch sử và những giá trị văn hóa truyền thống luôn được bồi đắp, trân trọng giữ gìn.

Di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ là “điểm tựa” tâm linh của người dân Mỹ Đà.

Di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ là “điểm tựa” tâm linh của người dân Mỹ Đà.

Ngôi làng nằm giữa cánh đồng Tam Tổng

Làng Mỹ Đà trước đây thuộc xã Hoằng Minh (sau là xã Hoằng Đức, huyện Hoằng Hóa cũ), nay thuộc xã Hoằng Hóa. Vùng đất này được hình thành bởi quá trình bồi đắp phù sa của sông Tuần (một nhánh của sông Mã thời xa xưa, trước khi “đổi dòng” chảy về Hàm Rồng). Phù sa sông Tuần qua thăm thẳm thời gian bồi đắp đã tạo nên cánh đồng Tam Tổng rộng lớn (tên gọi ba tổng Từ Quang, Hành Vĩ, Bút Sơn thuộc huyện Hoằng Hóa trước Cách mạng Tháng Tám). Cũng bởi sự trù phú, cánh đồng Tam Tổng từng được coi là vựa lúa của huyện Hoằng Hóa khi xưa. Đến nay, nơi đây vẫn là vùng canh tác lúa rộng lớn.

Làng Mỹ Đà nằm giữa cánh đồng Tam Tổng. “Đi vào Mỹ Đà những năm trước Cách mạng Tháng Tám 1945 phải bằng những lối mòn qua cánh đồng Tam Tổng, cách chân đê về phía Bắc khoảng 2km. Bước ra khỏi làng là phóng tầm mắt đến một vùng lúa mênh mông bát ngát” (sách Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của Nhân dân xã Hoằng Minh).

Phù sa sông Tuần mang lại sự tốt tươi cho đồng đất. Nhưng bên cạnh đó, cánh đồng Tam Tổng cũng bị xem là “rốn nước” mỗi khi vào mùa mưa lũ. Thực tế, khi chúng tôi ghé thăm Mỹ Đà, dù đợt mưa lớn đã dứt nhưng đồng ruộng vẫn mênh mông nước, lúa “thấp thó” cổ bông. Đứng trước đồng làng dềnh nước mà lúa chưa kịp thu hoạch, ông Lê Viết Vơn, Bí thư Chi bộ thôn Mỹ Đà, trầm ngâm: “Những thế hệ người dân Mỹ Đà đời nối đời sống ở đất này nên vốn không còn xa lạ với cảnh mưa lũ, ngập lụt. Không ít năm cả làng mất trắng, mưa lũ nhấn chìm tất cả, đã từng có những năm mất mùa liên tiếp, người dân phải tha phương khắp nơi. Nhưng qua buổi khó khăn, người ta lại tìm về quê, xây dựng xóm làng. Mất mùa thì ai cũng xót của, nhưng đâu thể “bỏ” quê mà đi cho được. Xưa nay vẫn vậy”.

Đến nay vẫn chưa có khẳng định chắc chắn về thời gian lập dựng làng Mỹ Đà. Song lưu truyền dân gian kể rằng, từ hàng nghìn năm trước, vùng đồng bằng ven sông Mã đã có con người cư ngụ. Đến thời nhà Lý thì đã có làng. Buổi ban đầu, làng có tên Kẻ Cổ, về sau đổi thành Mỹ Đà.

Người Mỹ Đà bao đời luôn lấy sự yên ổn làm trọng. Các thế hệ người dân có thể vượt qua những thử thách, khắc nghiệt của thiên nhiên và nghịch cảnh để xây dựng cuộc sống. Song phía sau sự nhẫn nại, chịu thương, chịu khó ấy là khí phách, sự cương trực, bất khuất và tinh thần yêu nước. Và “Bang tá” Lê Viết Trạc là một trong những người con ưu tú của quê hương Mỹ Đà.

Cuối thế kỷ XIX, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, văn thân, sĩ phu Thanh Hóa khắp các vùng miền dốc sức chống Pháp. Ở Mỹ Đà lúc bấy giờ, Lê Viết Trạc tham gia phong trào Cần Vương và được giao giữ chức Bang tá quân vụ Ba Đình.

Ngay tại quê nhà Mỹ Đà, Bang tá Trạc xây dựng lực lượng chống Pháp. Ông tập hợp người dân bí mật rèn sắm vũ khí; lợi dụng địa thế “biệt lập” của làng Mỹ Đà, ông chiêu mộ trai tráng trong vùng về đây đêm ngày luyện tập võ nghệ, rèn sức chiến đấu. Cồn Đồng Mả ngoài cánh đồng trở thành bãi tập của nghĩa quân. Bấy giờ, người dân trong vùng ủng hộ tiền bạc, lương thực cho nghĩa quân.

Năm 2025, giếng Văn Chỉ làng Mỹ Đà được tôn tạo khang trang bằng nguồn xã hội hóa.

Năm 2025, giếng Văn Chỉ làng Mỹ Đà được tôn tạo khang trang bằng nguồn xã hội hóa.

Theo sách Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của Nhân dân xã Hoằng Minh, “giáo trường Mỹ Đà ngày càng nổi thanh thế và là trung tâm hậu cứ thường xuyên xuất quân đi Ba Đình. Mỗi lần xuất quân đều do Lê Viết Trạc chỉ huy từ Mỹ Đà xuống miền biển, có lúc đi thuyền, có lúc đi bộ qua đò Cồn Đình, đi Hậu Lộc đến Nga Sơn”.

Đáng tiếc, khi căn cứ Ba Đình thất thủ, làng Mỹ Đà không tránh khỏi bị liên đới. Quân Pháp nhiều lần kéo quân về Mỹ Đà lùng sục, bắt bớ, tàn sát. Xóm làng bị đốt phá, các công trình kiến trúc bị phá hủy, người dân bị giết hại... Riêng Bang tá Lê Viết Trạc trước khi bị chém đầu vẫn giữ khí phách khảng khái, không run sợ.

Tiếp nối truyền thống yêu nước, trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và hai cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc, đất và người Mỹ Đà đã cùng với cả nước dốc sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần quan trọng để năm 2002, Đảng bộ và quân dân xã Hoằng Minh được tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Giữ lấy “hồn làng”

Ghé thăm Mỹ Đà, cảnh quan làng quê thanh bình, yên ả, những cây đa, giếng nước, đền thờ cổ kính làm giàu thêm “bức họa” quê hương. Bức họa ấy không những gợi xúc cảm cho khách ghé thăm cảm nhận về chiều sâu văn hóa của vùng đất có lịch sử lâu đời, mà còn níu bước chân người đi xa nhớ về nguồn cội.

Cổng vào làng Mỹ Đà được xây dựng khang trang bằng nguồn xã hội hóa.

Cổng vào làng Mỹ Đà được xây dựng khang trang bằng nguồn xã hội hóa.

Ngay đầu làng là Di tích cấp quốc gia đền Đồng Cổ - không gian thiêng, cũng là “điểm tựa” tâm linh cho người dân Mỹ Đà trong suốt chiều dài phát triển của làng.

Tương truyền, vào đầu thời Lý, Thái tử Lý Phật Mã theo lệnh vua dẫn quân xuống phương Nam đánh giặc, khi qua đất Kẻ Cổ thấy làng có nghè thờ tựa hình hoa sen, Thái tử liền sai người lập đàn cầu khấn, thần Đồng Cổ hiển linh báo sẽ phù trợ đại quân đi đánh giặc. Thắng trận trở về, qua đất Kẻ Cổ, Thái tử Lý Phật Mã đã vào nghè thắp hương và mở tiệc khao quân. Đến khi về Thăng Long, vua nhà Lý đã ban cho làng tiền để lập dựng ngôi đền thờ to lớn, ban mỹ tự cho thần là “Thượng Đẳng phúc thần”. Trải qua thời gian, các triều đại về sau nhiều lần ban sắc phong. Thời nhà Nguyễn, sắc phong cho thần là “Bảo Hựu hiển ứng Huyền thông Thượng Thượng đẳng phúc thần Đại vương”.

Hằng năm, vào ngày 1 tháng 2 âm lịch, người dân Mỹ Đà lại về đền Đồng Cổ mở lễ hội kỳ phúc, bày tỏ lòng biết ơn và cả cầu mong được thần linh chở che, phù trợ những điều tốt lành. Nếu Di tích Đền Đồng Cổ là không gian thiêng thì lễ hội kỳ phúc là “sự kiện” văn hóa lớn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người dân nơi đây.

Trong niềm vui giới thiệu về quê hương, ông Lê Viết Vơn “khoe”: “Ở Mỹ Đà trước đây có hai giếng làng rất lớn, người dân thường gọi là giếng Chùa và giếng Văn Chỉ. Nhưng trải qua thời gian, chiến tranh bom đạn vùi lấp khiến giếng không còn nguyên vẹn. Trăn trở về việc khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống, năm 2025 bằng nguồn xã hội hóa, Nhân dân Mỹ Đà đã cùng nhau đóng góp kinh phí tôn tạo lại hai giếng cổ. Trước đó, vào năm 2023, cổng làng Mỹ Đà cũng được xây dựng khang trang bằng nguồn xã hội hóa. Dẫu đời sống còn không ít khó khăn, nhưng “hồn quê” với đất và người Mỹ Đà thì luôn được coi trọng, gìn giữ”.

(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của Nhân dân xã Hoằng Minh (1930-2010), NXB Thanh Hóa, 2015).

Bài và ảnh: Trang Bùi

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/my-da-hon-que-con-mai-45337.htm