Khi “lửa nghề” vẫn “cháy”
Qua đi thời gian, đan lát truyền thống vẫn hiện diện trong mưu sinh và nếp sống đối với người dân miền núi, dù sự gắn bó với nghề thể hiện ở nhiều cách thức khác nhau...
Giữ lại “nhịp nan” (Bài 2):

Cụ Lê Đắc Hữu, gần 80 tuổi vẫn nhận hàng của khách đặt để giữ “lửa nghề”...
1. Cách đây hơn một tuần, anh Lê Văn Quang ở thôn Tân Lập (xã Đồng Lương) đã đến nhà ông Hà Hải Hoàn cùng thôn để nhờ ông đan sọt đựng lễ vật đi hỏi vợ. Được ông Hoàn nhận lời, anh Quang thấy phấn chấn trong lòng. Bởi, như chia sẻ của anh: “Vẫn biết lâu nay ông chưa bỏ nghề truyền thống, nhưng tôi vẫn sợ ông từ chối, rất mừng, là ông vui vẻ đồng ý”.
Dù ông Hoàn đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn “say nghề”. Với ông, đan lát là nghề truyền thống nên khó dứt bỏ. Dù nhiều người trong thôn, trong xã không còn theo nghề nhưng một số người cao tuổi như ông vẫn tiếp tục gắn bó. “Vì thu nhập thì ít mà nhớ nghề thì nhiều. Làm cho vui, cho khỏe thôi nhưng đó cũng là cách giữ nghề đấy”, ông Hoàn nói.
Theo trưởng thôn Tân Lập Lê Hồng Minh, hiện trong thôn còn khoảng 20 cụ vẫn đam mê với nghề đan lát truyền thống nhưng các cụ có “lối đi” riêng. “Không phải lúc nào các cụ cũng đan, phải có khách đặt thì các cụ mới “trổ tài”. Thường, các cụ hay làm những sản phẩm truyền thống cho bà con như nong phơi lúa, nia, dón...”, trưởng thôn Lê Hồng Minh cho biết.
Không chỉ Tân Lập, thôn “láng giềng” Chiềng Khạt cũng còn 15 cụ tham gia đan lát, người ít tuổi nhất là 70, còn nhiều nhất đã 80 tuổi. Bí thư chi bộ thôn Chiềng Khạt Lê Thị Thời có thể đếm vanh vách tên các cụ còn hừng hực “lửa nghề” như cụ Hữu, cụ Mong, cụ Đông, cụ Hương... Đặc biệt là cụ Lê Đắc Hữu, dù đã ở tuổi 80 nhưng dường như ngày nào cũng bận rộn với nghề. Cũng như một số cụ trong thôn Chiềng Khạt, ngoài làm sản phẩm khách đặt, cụ Hữu còn làm thêm hàng để con cháu mang đi bán. Bí thư chi bộ thôn Lê Thị Thời đồng thời cũng là con gái của cụ Hữu nói về cha mình: “Cha tôi gắn bó với nghề từ khi còn trẻ. Về già, ông vẫn không ngừng đam mê. Ông đan cẩn thận, tỉ mỉ. Cái rổ, cái rá của cha đan mấy chục năm rồi nhưng vành chưa bao giờ rách. Một cái rổ, cha tôi phải đan khoảng 3 ngày mới xong hay một cái nong cũng gần 10 ngày... Những sản phẩm do cha làm, con cháu lại đăng lên mạng xã hội để bán cho ông”.
“Một sản phẩm ra đời, lãi được nhiều không?”. Câu hỏi ấy khiến cụ Lê Đắc Hữu có vẻ hơi giật mình. Cụ lắc đầu: “Tính lời lãi làm gì. Tuổi già, ngồi không thấy buồn, phải đụng tay với mây tre đan mới vui... Nghề truyền thống, không bỏ được”.

Bà con thôn Thạch Tiến vẫn giữ nghề đan cót truyền thống.
Không chỉ ở xã Đồng Lương mà hiện nghề đan lát truyền thống vẫn được một số địa phương gìn giữ. Khi “lửa nghề” vẫn “cháy”, sẽ tiếp thêm sức sống cho nghề.
2. Nghề đan lát không chỉ có từ mấy chục năm mà đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời của cộng đồng các dân tộc thiểu số và miền núi. Vì vậy, giữ lại “nhịp nan” không đơn thuần là câu chuyện sinh kế mà hơn thế, đó còn là giữ lại giá trị văn hóa truyền thống, lan tỏa sự gắn kết cộng đồng...
Đặt chân về đất Cẩm Thạch, một xã miền núi với diện tích tre, luồng, nứa, vầu gần 1.000ha, chiếm khoảng 1/6 diện tích đất lâm nghiệp của xã, tự hỏi: Phải chăng, lợi thế này đã tạo điều kiện cho người dân gắn bó với nghề đan cót đã có từ lâu đời.
Ở Cẩm Thạch hiện có khoảng 1.600 hộ tham gia đan cót, chủ yếu người cao tuổi. Nghề không mang lại thu nhập cao nhưng cũng đã góp phần cải thiện đời sống sinh hoạt hàng ngày cho bà con. Lúc nông nhàn, người dân lại chia thành những cụm nhỏ, tập trung về nhà có sân rộng để vừa râm ran chuyện trò, vừa dẻo tay đan.

Ông Hà Hải Hoàn đang đan sọt đựng lễ vật hỏi cưới vợ của khách.
Như lúc này là 2 giờ chiều, tại nhà bà Phạm Thị Phương, ở thôn Thạch Tiến, chủ nhà cùng các bà Phạm Thị Dân, Lương Thị Xuyên lại “hẹn hò” với nghề. Bà Dân ngồi chẻ nan còn bà Phương, bà Xuyên đan cót. Trong số các bà, người nhiều tuổi nhất là 65, ít nhất 55 tuổi. Ai cũng có 30 - 40 năm trong nghề. Nhưng, cụ bà hơn 80 tuổi đang ngồi ở nhà trong, là mẹ đẻ của bà Phương thì có thâm niên nghề nhiều hơn, gần 60 năm. Tuy nhiên, 2 năm nay do tuổi cao, sức yếu bà đã dừng đan cót.
“Một tấm cót, sau khi trừ hết chi phí, còn được bao nhiêu?”. “Mỗi lá cót sau khi trừ chi phí còn khoảng 8.000 đồng”, bà Phương nói. “Người nào đan nhanh, thì được khoảng 10 - 15 lá/ngày. Nhưng, chỉ khi nông nhàn mới làm được nên thu nhập thường thấp, chỉ vài trăm đến khoảng 2 triệu đồng/người/tháng”.
Sau khi lên rừng lấy nứa, vầu..., bà Phương, bà Dân cũng như nhiều người khác lại về chẻ nan, đan cót và sau đó, nhập cho cơ sở thu mua ngay trong xã. Theo báo cáo của Phòng Kinh tế UBND xã Cẩm Thạch, hiện xã có 6/13 thôn đan cót và có 7 cơ sở thu mua.
Nguyên liệu sẵn có và sản phẩm có đầu ra, là những yếu tố quan trọng để nghề đan cót truyền thống ở xã Cẩm Thạch được duy trì và phát huy. Ông Lê Hùng Vui, Phó Chủ tịch UBND xã Cẩm Thạch cho biết: “Nghề đan cót không mang lại thu nhập cao nhưng quan niệm của bà con, nghề có sẵn, nguyên liệu có sẵn tại sao lại để phí. Do đó, nhiều người vẫn tiếp tục theo nghề đến hôm nay...”.
Dù sức sống ấy vẫn hiện hữu qua đôi bàn tay của những người cao tuổi, nhưng “ngọn lửa” ấy cũng chỉ còn le lói trong một bộ phận nhỏ và đang dần lùi sâu vào dĩ vãng trước “guồng quay” hiện đại. Làm sao giữ lại những giá trị xanh của thôn làng cho mai sau?
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/khi-lua-nghe-van-chay-45443.htm
