Giữ gìn vùng sinh cảnh cho đàn voi

Quần thể đàn voi tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi (thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng) đang được ghi nhận những tín hiệu phát triển đáng mừng. Trao đổi với phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng, ông Lê Hoàng Sơn, Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng cho biết về công tác bảo tồn, bảo vệ đàn voi tiếp tục được triển khai với nhiều biện pháp hiệu quả.

Hình ảnh đàn voi ghi nhận thông qua bẫy ảnh tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi. Ảnh: ĐVCC

Hình ảnh đàn voi ghi nhận thông qua bẫy ảnh tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi. Ảnh: ĐVCC

* Thưa ông, gần đây qua công tác nghiệp vụ, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách đã ghi nhận tín hiệu tích cực về sự phát triển của đàn voi, xin ông cho biết cụ thể việc này?

- Cuối năm 2025, Ban Quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng nhận được thông tin từ người dân và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách Trạm Quản lý bảo vệ rừng Quế Lâm về sự xuất hiện của voi con tại khu bảo tồn. Vì vậy, từ ngày 8 đến 15/2/2026, đơn vị đã triển khai đặt 45 chiếc bẫy ảnh tại 15 vị trí, trải rộng qua 3 tiểu khu để giám sát đàn voi.

Đến tháng 4/2026, đơn vị tổ chức thu hồi thiết bị và dữ liệu ngoài thực địa. Kết quả ghi nhận khoảng 9 cá thể voi, trong đó có 2 voi con khoảng 6 tuổi và 2 tuổi. Đây là số lượng cá thể voi lớn nhất được ghi nhận tại khu bảo tồn từ trước đến nay.

Đặc biệt, việc ghi nhận các cá thể voi con nhiều độ tuổi là tín hiệu tích cực, cho thấy khả năng sinh sản tự nhiên của đàn voi vẫn đang được duy trì ổn định. Đây cũng là cơ sở quan trọng để ban quản lý tiếp tục theo dõi diễn biến quần thể, sinh cảnh và phạm vi hoạt động của đàn voi trong thời gian tới.

* Để có được hình ảnh và các thông tin liên quan đến các loài động vật nói chung đang được quan tâm bảo vệ tại khu bảo tồn, thời gian qua đơn vị đã triển khai các biện pháp hiệu quả nào?

- Trong công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học, Ban Quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng đang áp dụng nhiều giải pháp và từng bước ứng dụng khoa học công nghệ cùng với sự tham gia của lực lượng bảo vệ rừng, cộng đồng địa phương. Cụ thể, chúng tôi ứng dụng đồng bộ các phương pháp giám sát đa dạng sinh học.

Hiện nay, ban quản lý đang triển khai song song hai phương pháp giám sát bằng bẫy ảnh, gồm điều tra đa dạng sinh học bằng bẫy ảnh hệ thống và giám sát đa dạng sinh học bằng hình thức đặt bẫy ảnh chủ đích. Việc kết hợp hai phương pháp giúp vừa có dữ liệu phục vụ đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, vừa tăng khả năng ghi nhận các loài quý hiếm, khó quan sát trực tiếp ngoài thực địa. Đối với đàn voi, bẫy ảnh còn giúp ghi nhận số lượng, sự xuất hiện của voi con, hoạt động và phạm vi sử dụng sinh cảnh của đàn theo từng thời điểm.

Trong đó việc giám sát voi bằng thiết bị camera trap là chủ yếu, thời gian đến chúng tôi sẽ thực hiện giám sát bằng thiết bị bay không người lái có gắn camera tầm nhiệt. Bên cạnh đó, Trạm Quản lý bảo vệ rừng Quế Lâm thường xuyên cập nhật hoạt động của đàn voi vào sổ theo dõi thông qua thông tin ghi nhận của lực lượng bảo vệ rừng và người dân địa phương.

Ngoài ra, còn có nhiều biện pháp khác như: Nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ rừng trong công tác giám sát đa dạng sinh học; tăng cường công tác tuần tra, bảo vệ rừng; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng; giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; kiểm soát người ra vào rừng; triển khai các hoạt động hỗ trợ vùng đệm...

Đặt thiết bị quan sát để bảo vệ đàn voi. Ảnh: Đ.V

Đặt thiết bị quan sát để bảo vệ đàn voi. Ảnh: Đ.V

* Xin ông phân tích những đặc tính nổi bật của đàn voi đang hiện diện tại khu bảo tồn và những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên tại khu vực liên quan đến sự phát triển của đàn voi?

- Về đặc tính nổi bật của đàn voi đang hiện diện tại khu bảo tồn: Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi là nơi bảo vệ một quần thể voi châu Á hoang dã còn lại ở khu vực miền Trung.

Qua kết quả ghi nhận bằng bẫy ảnh, điểm đáng chú ý là trong đàn có sự hiện diện của các cá thể trưởng thành và voi con. Việc ghi nhận voi con là tín hiệu tích cực, cho thấy khả năng sinh sản tự nhiên của đàn voi vẫn đang được duy trì ổn định. Hình ảnh từ bẫy ảnh cũng cung cấp thêm thông tin về hoạt động di chuyển, kiếm ăn và sử dụng sinh cảnh của các cá thể voi, tạo cơ sở cho việc tiếp tục theo dõi và đánh giá diễn biến của quần thể.

Về những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên: Khu bảo tồn có diện tích sinh cảnh lớn (gần 19.000ha); trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt khoảng 13.000ha, tạo không gian sinh sống và di chuyển cho đàn voi. Khu vực còn duy trì các sinh cảnh rừng tự nhiên, hệ thống suối và các khu vực phù hợp cho hoạt động kiếm ăn, uống nước và di chuyển của voi. Đây là những yếu tố quan trọng đối với việc duy trì sinh cảnh sống của loài voi trong tự nhiên.

Tuy nhiên, nguy cơ xung đột giữa người và voi vẫn còn tiềm ẩn. Sinh cảnh của voi chịu áp lực từ các hoạt động sản xuất, chăn thả gia súc và các hoạt động của con người tại khu vực vùng đệm. Bên cạnh đó, các tuyến đường giao thông và khu dân cư có thể ảnh hưởng đến khả năng di chuyển giữa các khu vực sinh sống của voi.

Trong những năm trước, giai đoạn 2017 - 2020, đàn voi từng tràn vào thôn Cấm La, gây thiệt hại hoa màu và làm hư hỏng một số công trình, tài sản của người dân. Vì vậy, mặc dù đã triển khai các giải pháp như hàng rào xanh và tuyên truyền cộng đồng, áp lực từ đất sản xuất ven rừng vẫn là vấn đề cần tiếp tục chú trọng.

Theo ông Lê Hoàng Sơn, bảo tồn voi không chỉ là bảo vệ từng cá thể mà là bảo vệ sinh cảnh và duy trì, hướng đến không gian sống an toàn để quần thể có thể tồn tại, sinh sản và phát triển lâu dài trong tự nhiên.

Vì vậy, ban quản lý xác định bảo vệ rừng, duy trì tính liên kết sinh cảnh, bảo vệ khu vực voi thường xuyên tìm kiếm nguồn thức ăn, di chuyển và sử dụng nguồn nước là những nhiệm vụ quan trọng.

Song song, ban quản lý tăng cường phối hợp các đơn vị, tổ chức bảo tồn và chính quyền địa phương để nghiên cứu, giám sát quần thể, chia sẻ dữ liệu và triển khai các hoạt động hỗ trợ cộng đồng vùng đệm.

Mục tiêu từng bước hình thành cơ chế phối hợp giữa công tác bảo tồn thiên nhiên và nhu cầu sinh kế của người dân, hướng tới giảm thiểu các tác động đến sinh cảnh của voi.

Bên cạnh đó, sinh kế và mức độ tham gia của cộng đồng vẫn là vấn đề cần được quan tâm. Một bộ phận sinh kế của người dân vùng đệm còn gắn với sản xuất nông nghiệp, làm nương rẫy và chăn thả gia súc. Vì vậy, việc hài hòa giữa nhu cầu sinh kế của người dân với yêu cầu bảo vệ sinh cảnh voi là một nhiệm vụ cần được thực hiện lâu dài, với sự tham gia của cộng đồng.

Điều đáng lo hơn là các tác động từ bên ngoài vẫn còn tồn tại. Nguy cơ bẫy bắt động vật hoang dã trong lâm phận vẫn là vấn đề cần tiếp tục được kiểm tra, tuần tra và xử lý. Người dân vùng đệm chăn thả gia súc trong khu bảo tồn chưa được giải quyết...

* Vậy công tác tuyên truyền, vận động người dân địa phương chung tay bảo vệ đàn voi sẽ được tiếp tục như thế nào, thưa ông?

- Công tác tuyên truyền, vận động người dân địa phương chung tay bảo vệ đàn voi luôn được ban quản lý xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Chúng tôi áp dụng đa dạng hình thức tuyên truyền đối với người dân vùng đệm như tuyên truyền tại các cuộc họp thôn, tuyên truyền lưu động, tuyên truyền trực quan; phối hợp tổ chức các buổi triển lãm, tặng quà cho học sinh… Qua đó từng bước nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã, bảo tồn voi và phòng ngừa xung đột người - voi.

Từ đầu năm đến nay, chúng tôi đã ban hành một số kế hoạch liên quan đến công tác tuyên truyền, vận động người dân địa phương chung tay bảo vệ rừng nói chung và bảo vệ đàn voi nói riêng. Bên cạnh đó đơn vị cũng phối hợp với các dự án, tổ chức trong và ngoài nước triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ công tác bảo tồn và giảm thiểu xung đột người - voi; trong đó có dự án “Thúc đẩy các giải pháp chung sống bền vững giữa con người và loài voi hướng đến bảo tồn quần thể voi châu Á tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi” do Công ty TNHH HiVOOC thực hiện; các hoạt động thuộc Dự án Trường Sơn Xanh, như thành lập các nhóm bảo tồn cộng đồng, các câu lạc bộ “Kiểm lâm viên nhí”, các nhóm tuần tra thôn bản...

Thông qua các hoạt động này, mục tiêu của chúng tôi là tăng cường sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong công tác bảo tồn; nâng cao nhận thức về giá trị của loài voi và hệ sinh thái rừng; đồng thời từng bước xây dựng sự đồng thuận giữa yêu cầu bảo tồn với sinh kế của người dân vùng đệm.

Trân trọng cảm ơn ông!

MINH ĐỨC - TƯỜNG VY (thực hiện)

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/giu-gin-vung-sinh-canh-cho-dan-voi-3354147.html