Giếng Chăm cổ khơi dòng du lịch

Những vùng đất thường xuyên đối mặt với nắng hạn, thậm chí nằm ngay bên bờ biển, nhiều giếng Chăm cổ vẫn cung cấp nguồn nước trong lành qua hàng trăm năm. Những công trình tưởng như bình dị này chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và đời sống. Ngày nay, cùng với việc cung cấp nguồn nước cho cộng đồng, các giếng Chăm cổ còn gắn với tín ngưỡng dân gian, trở thành điểm đến để du khách khám phá những câu chuyện và dấu tích văn hóa trên dải đất miền Trung.

Giếng Chăm cổ ở Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan và trải nghiệm văn hóa Chăm. Ảnh: Minh Ngọc

Giếng Chăm cổ ở Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan và trải nghiệm văn hóa Chăm. Ảnh: Minh Ngọc

Ngọt ngào trăm năm

Khắp dải đất miền Trung, sự tồn tại của các giếng Chăm cổ là chứng tích trực quan thể hiện quá trình giao lưu, hòa trộn các dòng chảy văn hóa trong lịch sử. Bên cạnh những đền tháp, người Chăm xưa còn lưu lại một loại hình di tích tuy không nhiều và ít được biết đến, nhưng rất độc đáo, đó là những giếng nước đã tồn tại qua hàng trăm năm. Những công trình này còn lưu giữ nhiều điều chưa được lý giải đầy đủ về kỹ thuật tạo dựng và khai thác nguồn nước, tạo nên sức hấp dẫn riêng. Đáng chú ý, có những giếng nằm sát biển nhưng nguồn nước vẫn giữ được vị ngọt. Nổi bật trong đó là giếng Lăng ở làng cổ Nam Ô (thành phố Đà Nẵng), chỉ cách mép biển khoảng 50m; giếng cổ ở làng chài Nhơn Lý (tỉnh Gia Lai); giếng Chăm ở Gò Cỏ (tỉnh Quảng Ngãi), cách mép biển chỉ 70m. Tại các vùng đảo, nhiều giếng cũng không bị nhiễm mặn, như giếng Chăm ở Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng), giếng Chăm ở xã đảo Tam Hải (thành phố Đà Nẵng), hay giếng Xó La (giếng vua) ở Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi).

Nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các nhà khảo cổ đã dày công tìm hiểu về giếng Chăm cổ, từ kỹ thuật đào giếng, tìm mạch nước đến cách xây dựng và duy trì nguồn nước, song nhiều vấn đề vẫn chưa được lý giải đầy đủ. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, giếng Chăm cổ có kiểu miệng hình tròn hoặc hình vuông. Ở các địa phương khác nhau, có thể chia thành 3 loại gồm giếng mở, giếng nửa mở (giếng bộng) và giếng đóng. Trong đó, giếng đóng là loại phổ biến nhất. Những giếng này thường có hình vuông, được lát gạch hoặc đá tùy nguồn nguyên liệu của địa phương.

Hiện nay, kỹ thuật đào giếng của người Chăm đã bị thất truyền; việc các giếng nằm gần sông, biển nhưng không bị nhiễm mặn hay phèn cũng là vấn đề đang được giới chuyên môn tiếp tục tìm hiểu. Về giá trị của các giếng Chăm, nhà nghiên cứu Võ Văn Thắng, nguyên Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm (thành phố Đà Nẵng) cho rằng, những giếng cổ còn lại ngày nay cho thấy sự tiếp nối và giao lưu văn hóa giữa hai nền văn hóa Việt - Chăm. Đây cũng là những căn cứ, cơ sở để nghiên cứu, khảo cổ và tìm hiểu về văn hóa Chăm cổ.

Giếng Chăm cổ trong đời sống hiện đại

Nép mình giữa cuộc sống hiện đại, những giếng Chăm cổ vẫn hiện diện như một phần ký ức của các làng quê ven biển. Qua nhiều thế hệ, những công trình này không chỉ gắn với đời sống thường nhật mà còn được trao gửi những giá trị tâm linh, trở thành một phần không gian văn hóa của cộng đồng.

Giếng Chăm cổ ở làng Nam Ô (thành phố Đà Nẵng). Ảnh: Minh Ngọc

Giếng Chăm cổ ở làng Nam Ô (thành phố Đà Nẵng). Ảnh: Minh Ngọc

Nhà nghiên cứu văn hóa Đặng Dùng (thành phố Đà Nẵng) chia sẻ, trong tâm thức người dân hàng trăm năm qua, những giếng nước này không chỉ là nơi lấy nước sinh hoạt mà còn là biểu tượng tâm linh gắn với vận mệnh làng biển. Vì thế, người dân địa phương gìn giữ giếng như giữ “hồn làng”. Trong niềm tin dân gian, mỗi giếng nước là nơi thần linh ngự trị, âm thầm phù hộ cho ngư dân vượt qua những chuyến biển dữ, những mùa hạn khát kéo dài. Tại làng cổ Nam Ô, đến nay người dân vẫn còn giữ được 4/7 giếng Chăm cổ. Hiện nay, những giếng này không chỉ được sử dụng trong sinh hoạt mà còn là địa chỉ tâm linh quan trọng của làng Nam Ô. Đây cũng là nơi người dân trong làng thường tập trung vui chơi, hóng mát và sinh hoạt cộng đồng.

Để bảo tồn các giếng Chăm, cơ quan quản lý thời gian qua đã thực hiện việc đánh dấu, định danh các giếng; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, qua đó nâng cao ý thức và vận động cộng đồng chung tay bảo vệ các giếng Chăm cổ. Giá trị của những công trình cổ cũng đang được khai thác trong hoạt động du lịch. Giếng Chăm cổ tại Cù Lao Chàm với nhiều câu chuyện huyền bí xung quanh đã trở thành một địa điểm được du khách tìm đến trong mỗi chuyến ra đảo. Tương tự, những giếng Chăm cổ ở làng cổ Nam Ô, giếng Xó La ở Lý Sơn hay giếng Chăm ở làng du lịch Gò Cỏ đã được đưa vào các tour du lịch, tạo thêm điểm tham quan và trải nghiệm văn hóa cho du khách.

Ông Ngô Đình Mẫn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cho biết, chính quyền địa phương luôn khuyến khích các hộ dân và cộng đồng tham gia phát triển du lịch cộng đồng gắn với di sản, trong đó có giếng cổ như một điểm dừng chân trải nghiệm văn hóa. Một số tour du lịch trải nghiệm hiện nay đã đưa du khách đến thăm giếng cổ, nghe kể truyền thuyết về nguồn nước ngọt bên bờ biển, chụp ảnh check-in.

Mấy trăm năm đã trôi qua, những giếng Chăm cổ đã trở thành hiện vật quý trong “bảo tàng cuộc sống” được cộng đồng lưu giữ qua nhiều thế hệ. Trong không gian làng biển, mỗi giếng Chăm cổ vì thế trở thành một điểm nối giữa những dấu tích của quá khứ với đời sống hôm nay, đồng thời mở thêm một hướng khai thác giá trị di sản phục vụ du lịch.

Minh Ngọc

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/gieng-cham-co-khoi-dong-du-lich-post508145.html