Xác lập quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số
Thực tiễn tại nhiều địa bàn miền núi cho thấy, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đã sinh sống ổn định qua nhiều năm nhưng quyền sử dụng đất chưa được xác lập, do những vướng mắc về nguồn gốc đất, hồ sơ địa chính, ranh giới, quy hoạch. Vì vậy, các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai theo hướng xử lý căn cơ những tồn tại lịch sử, tạo cơ sở pháp lý để xác lập quyền sử dụng đất cho người dân.

Hoàn thiện pháp luật về đất đai, bảo đảm xác lập quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: TUẤN HIÊN
Từ “thiếu đất” đến khoảng trống về quyền pháp lý
Giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội đặt ra khi góp ý về định hướng sửa đổi Luật Đất đai. Các đại biểu nhấn mạnh, việc thiết kế chính sách này cần được nhìn nhận đầy đủ hơn từ thực tiễn sử dụng đất tại cơ sở.
Theo đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang), qua khảo sát tại địa phương, nhu cầu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất lớn, song kết quả thực hiện giai đoạn 2021-2025 còn thấp, trên 95% nhu cầu về đất ở và gần 99% nhu cầu về đất sản xuất chưa được giải quyết.
Đáng chú ý, đại biểu Lan chỉ ra, bên cạnh những hộ thực sự không có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất, còn có những hộ đã sinh sống, sản xuất ổn định từ lâu nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp. Đây là vấn đề khá phổ biến tại địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay.
Theo đó, có những điểm dân cư hình thành qua nhiều năm tại những nơi gắn với nương, rẫy và sinh kế của người dân, nhưng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường chưa được giải quyết dứt điểm; hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, ranh giới chưa rõ hoặc hiện trạng sử dụng đất còn chồng lấn với quy hoạch lâm nghiệp. Vì vậy, người dân có đất sử dụng trên thực tế nhưng chưa có quyền pháp lý tương ứng đối với diện tích đất đó.
“Khi chưa xác lập được quyền sử dụng đất thì không chỉ quyền về đất đai bị hạn chế mà người dân còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng chính sách về nhà ở, hỗ trợ sinh kế và một số chính sách an sinh khác” – đại biểu Lý Thị Lan chỉ rõ.
Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với việc hoàn thiện chính sách đất đai. Bởi nếu chỉ nhìn nhận vào số hộ thiếu đất để thiết kế chính sách thì chưa phản ánh đầy đủ thực trạng. Trong trường hợp này, nhu cầu của người dân không phải là được giao thêm một diện tích đất mới, mà trước hết là giải quyết dứt điểm tình trạng pháp lý đối với diện tích đất mà họ đã sử dụng ổn định qua nhiều năm.
Từ thực tế này, vấn đề đặt ra đối với quá trình sửa đổi pháp luật không chỉ là xác định đối tượng, điều kiện để hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, mà còn phải giải quyết được “khoảng trống” giữa đất người dân đang sử dụng trên thực tế và quyền sử dụng đất được pháp luật xác lập.
Đại biểu Lý Thị Lan cho rằng cần đặt chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong mối quan hệ trực tiếp với quy định về quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường.
Dẫn chứng thực tế từ tỉnh Tuyên Quang, đại biểu cho biết, hơn 28.000ha đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường đã được thu hồi, bàn giao về địa phương qua các giai đoạn song chưa hoàn thành đo đạc, xác định ranh giới; có nơi còn tranh chấp, lấn chiếm, cấp trùng; có diện tích người dân đã sử dụng ổn định; cũng có nơi hiện trạng sử dụng không thống nhất với hồ sơ hoặc quy hoạch lâm nghiệp.
Cùng đề cập vấn đề này, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) cho rằng, đất có nguồn gốc nông, lâm trường rất phức tạp, tranh chấp, lấn chiếm, giao khoán sai đối tượng, lấn chồng ranh giới, thiếu hồ sơ hoặc không xác định rõ nguồn gốc sử dụng. Nếu chỉ bàn giao nguyên trạng mà không đồng thời xác định rõ trách nhiệm pháp lý của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thì địa phương có thể nhận đất nhưng đồng thời nhận cả một khối lượng rất lớn các vấn đề về pháp lý chưa được giải quyết. Khi đó, mục tiêu cấp giấy chứng nhận đất cho người dân lại tiếp tục bị ách tắc.
Xử lý căn cơ bất cập, bảo đảm quyền hợp pháp của người dân
Từ những vướng mắc thực tiễn, các đại biểu Quốc hội đề nghị Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần tạo được cơ chế đủ rõ để xử lý các trường hợp sử dụng đất ổn định nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất, đồng thời phân định rạch ròi với các trường hợp lấn chiếm, vi phạm mới phát sinh.

Luật Đất đai sửa đổi cần có cơ chế nhằm tháo gỡ rào cản đối với quyền lợi chính đáng của người dân đang sử dụng đất ổn định. Ảnh: TUẤN HIÊN
Theo đại biểu Lý Thị Lan, cần rà soát quy định về chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và quy định về quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường theo hướng có sự kết nối rõ về chính sách và nguồn đất. Chính phủ cần được giao quy định cơ chế xử lý những tồn tại lịch sử đối với đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường, trong đó có những trường hợp hiện trạng sử dụng đất không thống nhất với hồ sơ, quy hoạch qua nhiều thời kỳ.
Điểm quan trọng được đại biểu nhấn mạnh là phải xác định rõ tiêu chí để phân loại, xử lý đối với những hộ gia đình, cá nhân đã sinh sống, sản xuất ổn định nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất; đồng thời phân biệt với trường hợp lấn chiếm, vi phạm mới phát sinh. Điều này vừa đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, vừa giữ nghiêm kỷ cương quản lý đất đai và yêu cầu bảo vệ rừng.
Cùng quan điểm cần xử lý căn cơ những vấn đề tồn tại mang tính lịch sử, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đoàn Đắk Lắk) cho rằng, định hướng khắc phục các tồn tại lịch sử trong quản lý, sử dụng đất, trong đó có đất có nguồn gốc nông, lâm trường quốc doanh, cần được luật hóa bằng một cơ chế cụ thể trong Luật Đất đai.
Theo đại biểu, cần có một cơ chế xử lý dứt điểm diện tích đất nông, lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép qua các thời kỳ, không phân biệt thời điểm lấn chiếm.Chính sách cần thiết kế theo hướng công nhận cho đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất; cho thuê đất đối với đối tượng còn lại nếu phù hợp với quy hoạch. Đồng thời, có giải pháp, lộ trình thu hồi đất bị lấn chiếm đối với diện tích đất còn lại nhằm đảm bảo kỷ cương pháp luật gắn với ổn định cuộc sống của người dân và thực hiện chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nguyên tắc được các ý kiến nhấn mạnh là không hợp thức hóa sai phạm, nhưng cũng không để những bất cập, thiếu thống nhất trong quản lý đất đai qua nhiều thời kỳ tiếp tục trở thành rào cản đối với quyền lợi chính đáng của người dân đang sử dụng đất ổn định.
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) nhấn mạnh quan điểm, hoàn thiện pháp luật cần đi cùng với việc xác lập một chuỗi trách nhiệm rõ ràng. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc rà soát, xác định ranh giới, hiện trạng nguồn gốc đất, xử lý hồ sơ chồng lấn và các tranh chấp đất trước khi bàn giao.
Như vậy, việc xác lập quyền sử dụng đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là việc giải quyết một nhu cầu về chỗ ở, mà còn là việc hoàn thiện địa vị pháp lý của người đang sử dụng đất, tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài từ lịch sử quản lý, sử dụng đất và tạo điều kiện để người dân tiếp cận đầy đủ hơn các quyền, chính sách gắn với đất đai. Khi những diện tích đất người dân đã sử dụng ổn định, đủ điều kiện được rà soát, phân loại và xử lý đúng pháp luật, đất đai mới thực sự trở thành nguồn lực phục vụ đời sống và phát triển.
Liên quan đến vấn đề này, mới đây, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Kế hoạch yêu cầu rà soát toàn diện hệ thống chính sách đất đai hiện hành; đánh giá thực trạng, xác định những bất cập, vướng mắc, chồng chéo để đề xuất nội dung cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới, bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật đất đai và các cơ chế, chính sách có liên quan.
Trọng tâm rà soát gồm: chính sách giao đất ở, đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo, thiếu đất; cơ chế hạn chế chuyển nhượng đất sau khi được Nhà nước hỗ trợ; đất sinh hoạt cộng đồng; cơ chế sử dụng quỹ đất thu hồi, nhất là đất từ nông, lâm trường, để giải quyết đất cho đồng bào;
Cơ chế, chính sách tham vấn cộng đồng khi thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đất đai gắn với bảo tồn văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào.
Kế hoạch nêu rõ, việc rà soát đồng thời gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa chính sách đất đai và các cơ chế triển khai Chương trình.
Trên cơ sở kết quả rà soát, các đơn vị liên quan sẽ xây dựng báo cáo, xác định danh mục chính sách cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới; đề xuất nội dung về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số để kiến nghị đưa vào Luật Đất đai (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành.



