Ngàn năm lưu dấu đất nung

Trong chuyến công tác tại Hàn Quốc, đoàn DNRT tìm đến Gurim, vùng đất nổi tiếng với làng cổ và những dấu tích gốm cổ của Yeongam. Giữa không gian bảo tàng, những chiếc chum đất nung dẫn chúng tôi từ liên tưởng câu chuyện về nghề gốm đến những suy tư ký ức đời người. Và thật tình cờ, trước một quan tài chum cổ của người Mahan, ký ức về những mộ chum Sa Huỳnh ở xứ Quảng bỗng trở về trong tôi. Hai vùng đất, hai dòng văn hóa, hai không gian lịch sử khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một vật liệu rất giản dị. Là đất nung.

Đoàn công tác Đà Nẵng tại Bảo tàng Đồ gốm Yeongam - nơi lưu giữ nhiều dấu tích gốm cổ và quan tài chum của vùng Gurim. Ảnh: VĂN NỞ

Đoàn công tác Đà Nẵng tại Bảo tàng Đồ gốm Yeongam - nơi lưu giữ nhiều dấu tích gốm cổ và quan tài chum của vùng Gurim. Ảnh: VĂN NỞ

Đoàn DNRT đến Gurim trong những ngày khảo sát văn hóa, lịch sử và các giá trị có thể kết nối với du lịch. Gurim không chỉ hiện diện bằng những ngôi nhà cổ, những con đường làng và câu chuyện về Quốc sư Doseon. Trong không gian Bảo tàng Đồ gốm Yeongam ở làng cổ Gurim, một lớp ký ức khác được mở ra từ những hiện vật gốm, từ dấu tích những sản phẩm từng được tạo ra bằng đất, nước, lửa và bàn tay con người.

Đi giữa những tủ kính, tôi bất chợt gặp một hình hài rất quen. Không phải một chiếc bình. Không phải một chiếc chum đựng nước. Mà là một chiếc quan tài bằng đất nung.

Chiếc quan tài chum cao lớn, thân dựng đứng, miệng mở rộng. Bề mặt đã nứt vỡ, nhiều mảnh được ghép lại, nhưng chính những đường vỡ ấy lại khiến hiện vật có sức sống kỳ lạ. Bảng giới thiệu tại bảo tàng gọi đó là “Jar Coffin” - quan tài chum, thuộc thế giới mai táng của người Mahan cổ. Nhìn chiếc chum, tôi lập tức nhớ đến những mộ chum Sa Huỳnh ở xứ Quảng mà chúng tôi đã từng làm bộ phim tài liệu "Kỳ bí văn hóa Sa Huỳnh ở Đà Nẵng", những chiếc chum cũng từng nằm im trong lòng đất hàng nghìn năm trước khi được các nhà khảo cổ đánh thức.

Có những cuộc gặp không được sắp đặt. Cuộc gặp giữa những chiếc chum cũng vậy.

Vòng đời của đất

Ở xứ Quảng, mộ chum là một dấu ấn đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh. Từ năm 1976 đến nay, khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng đã thống kê hơn 100 địa điểm có dấu tích văn hóa Sa Huỳnh, trong đó có nhiều khu mộ chum và khu cư trú cổ phân bố từ vùng núi xuống đồng bằng, cồn cát ven sông, ven biển và ra tới Cù Lao Chàm. Tam Mỹ, Gò Mả Vôi, Gò Dừa, Lai Nghi, Lạc Câu, Hậu Xá, Trà Kiệu… mỗi địa danh như một mảnh ghép của một nền văn hóa đã để lại dấu chân rất sâu trên đất Quảng.

Những mộ chum Sa Huỳnh được trưng bày trong Bảo tàng Đà Nẵng, hay Điện Bàn, Trà Kiệu… gây ấn tượng không chỉ là số lượng mà còn là sự đa dạng về hình dáng và kích thước. Có những chiếc thấp, thân tròn; có chiếc hình trụ cao; có loại hình trứng, hình cầu; lại có những trường hợp hai chum lồng vào nhau theo kiểu nội quan - ngoại quách. Chiếc mộ chum Tam Mỹ hiện lưu giữ tại Bảo tàng Đà Nẵng cao khoảng 80 cm, đường kính miệng 59 cm, được làm từ đất sét pha cát hạt mịn màu đỏ nhạt, tạo hình bằng bàn xoay, có độ mỏng tương đối đều. Niên đại được xác định vào khoảng 2.500 năm trước.

Mộ chum Sa Huỳnh ở Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh - Chămpa (Đà Nẵng). Ảnh: N.H.Đ

Mộ chum Sa Huỳnh ở Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh - Chămpa (Đà Nẵng). Ảnh: N.H.Đ

Có những chiếc chum nhỏ để chứa tro cốt. Có những chiếc chum lớn, như những phát hiện ở Gò Dừa, cao từ 1,2 đến 1,4 m, có khả năng từng được sử dụng để táng người trong tư thế ngồi bó gối. Sự khác biệt ấy cho thấy tục mai táng bằng chum ở Sa Huỳnh không phải một nghi thức duy nhất mà có nhiều hình thức, từ nguyên táng đến hỏa táng và cải táng.

Đằng sau mỗi chiếc chum là một quan niệm về cái chết.

Và có lẽ sâu hơn nữa là một quan niệm về sự sống.

Con người cổ đại không đơn giản đặt người chết xuống đất rồi rời đi. Họ làm ra một chiếc chum, lựa chọn địa điểm, chuẩn bị đồ tùy táng và thực hiện những nghi thức mà hôm nay chúng ta chỉ có thể lần theo qua những dấu vết còn lại.

Ở Lai Nghi, trên diện tích khai quật chỉ 192m2 ², các nhà khảo cổ đã phát hiện 63 mộ chum và dấu vết của 4 mộ đất, cùng hơn 10.000 hiện vật, trong đó có bộ sưu tập trang sức vàng, gồm 4 khuyên tai và 104 hạt chuỗi vàng, đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.

Những vật được đặt theo người chết càng làm câu chuyện dài thêm. Khuyên tai ba mấu, hạt thủy tinh, đồ đồng, công cụ, vũ khí… không chỉ là những vật dụng mà còn phản ánh địa vị, quan hệ xã hội, bản sắc cộng đồng và niềm tin về hành trình sang một thế giới khác.

Chiếc chum vì thế không chỉ chứa người chết.

Nó chứa cả cách người sống nhìn về cái chết.

Từ Yeongam trở về xứ Quảng, điều làm tôi suy nghĩ không phải là tìm một mối liên hệ trực tiếp giữa Mahan và Sa Huỳnh. Những tư liệu hiện có không cho phép nói như vậy. Điều đáng nói hơn là sự gặp nhau trong một cách ứng xử rất xa xưa của con người là lấy đất từ lòng đất, dùng bàn tay tạo hình, dùng lửa làm cho đất trở nên bền chắc rồi lại đưa vật ấy trở về lòng đất, cùng với người đã khuất.

Một vòng đời của đất.

Cũng là một vòng đời của ký ức.

Từ Gurim đến dòng sông xứ Quảng

Tại Gurim, câu chuyện về đất nung không chỉ nằm trong những chiếc quan tài chum. Bản thân vùng đất này từng là một trung tâm sản xuất đồ gốm quy mô lớn. Tư liệu trưng bày trong bảo tàng gốm cho biết khu vực Gurim có những lò gốm thuộc thời Silla thống nhất, khoảng thế kỷ VIII-IX; các dấu tích cho thấy một không gian sản xuất với đất, nhiên liệu và nguồn nước, đồng thời có nhiều loại đồ gốm sinh hoạt được phát hiện.

Quan tài chum Mahan ở Bảo tàng Đồ gốm Yeongam (Hàn Quốc). Ảnh: NVCC

Quan tài chum Mahan ở Bảo tàng Đồ gốm Yeongam (Hàn Quốc). Ảnh: NVCC

Điều đó làm cho chiếc quan tài chum đứng trước mắt chúng tôi trở nên có thêm một chiều sâu khác. Nó không phải một vật thể tự nhiên xuất hiện từ lòng đất. Trước khi trở thành áo quan, nó là sản phẩm của một nghề, của kỹ thuật, của những người thợ biết chọn đất, tạo hình và nung qua lửa.

Đất qua tay người thì thành gốm đất nung.

Những sản phẩm đất nung qua đời sống thì thành ký ức.

Ở xứ Quảng, câu chuyện ấy cũng từng diễn ra bên những dòng sông. Thanh Hà bên sông Thu Bồn là một ký ức gần gũi về nghề gốm, nơi đất, nước, lửa và bàn tay người thợ tạo thành những sản phẩm phục vụ đời sống rồi theo đường sông, đường biển đến những vùng đất khác. Xa hơn nữa, những phát hiện khảo cổ ở Trảng Sỏi cho thấy các lớp gốm Sa Huỳnh muộn, Chăm sớm, gốm Trung Hoa, Islam và Việt Nam cùng xuất hiện, phản ánh một không gian giao lưu rộng lớn của cư dân ven sông gần biển.

Vì vậy, nhìn từ Gurim, tôi lại thấy nghề gốm xứ Quảng trong một ánh sáng khác. Người thợ không chỉ làm ra một chiếc bình hay một cái nồi. Họ đang tạo ra đồ vật có khả năng đi qua thời gian. Khi còn sống, nó phục vụ đời sống. Khi được đặt vào một ngôi mộ, nó trở thành vật chứng của niềm tin. Khi được khai quật, nó trở thành tư liệu để hậu thế đọc lại một nền văn hóa.

Đất vốn không biết nói.

Nhưng đất giữ dấu tay người rất lâu.

Có lẽ đó là lý do chiếc quan tài chum ở Gurim khiến tôi nhớ về Sa Huỳnh ở Đà Nẵng đến vậy. Không phải vì hai chiếc chum giống nhau hoàn toàn, càng không phải để nối chúng bằng một nguồn gốc chưa được chứng minh. Chúng gặp nhau ở một tầng sâu hơn, nơi con người ở những vùng đất khác nhau cùng đặt vào đất những câu hỏi giống nhau: con người đi đâu sau cái chết, ký ức sẽ ở lại bằng cách nào và điều gì có thể đưa đời người vượt qua thời gian?

Những người làm ra chiếc quan tài chum ở Yeongam và những người từng tạo nên những mộ chum Sa Huỳnh có lẽ không bao giờ biết rằng hàng nghìn năm sau, những sản phẩm bằng đất của họ sẽ được đặt trong những không gian bảo tàng và trở thành đối tượng để chúng ta nhìn ngắm, suy tưởng.

Nhưng đó chính là điều kỳ lạ của di sản.

Người đi qua.

Đất ở lại.

Và những chiếc chum, sau một hành trình rất dài từ lòng đất đến bảo tàng, vẫn âm thầm kể chuyện về con người từng sống bên những dòng sông, những cánh đồng, chân núi đến miền biển Á Đông.

Bút ký của NGUYỄN HỮU ĐỔNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ngan-nam-luu-dau-dat-nung-3353978.html