Hóa giải các thách thức
Trái ngược với bức tranh có phần nhiều gam mầu xám của nhiều ngành hàng, từ đầu năm đến nay, xuất khẩu nông sản ghi nhận một số mặt hàng đạt kim ngạch lớn, giá cao, thậm chí có mặt hàng đạt mức kỷ lục.
Theo đó, tính đến tháng 9 năm nay, xuất khẩu rau quả đạt kim ngạch 4,2 tỷ USD - vượt mức kỷ lục của năm 2018 là 3,81 tỷ USD và tăng 71,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu gạo cũng đạt kim ngạch 3,66 tỷ USD, tăng 40,4%. Hiện giá gạo xuất khẩu 5% tấm giao dịch ở mức 618 USD/tấn, thậm chí có thời điểm đạt mức lịch sử: 650 USD/tấn.
Giá xuất khẩu cà phê trong tháng 8 vừa qua cũng ở mức cao kỷ lục, đạt 3.054 USD/tấn, tăng 29,7% so với tháng 8.2022. Tính chung trong 9 tháng, giá xuất khẩu bình quân đạt 2.499 USD/tấn, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Như vậy có thể thấy, sau khi sụt giảm mạnh ở những tháng đầu năm, đến đầu quý III, xuất khẩu các mặt hàng nông sản đã có những chuyển biến tích cực. Lý do là bởi nhu cầu của các thị trường lớn tăng. Mặt khác, do nước ta đã ký được các nghị thư để xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc theo đường chính ngạch đã kéo theo đơn hàng xuất khẩu tăng trở lại.
Lý do nữa là môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng hoàn thiện nên có nhiều công ty, doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại nước ta, góp phần bổ sung nguồn lực về vốn, thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Việc thực thi cam kết WTO cũng như đàm phán, thực hiện các FTA thế hệ mới cũng góp phần quan trọng mở rộng điều kiện tiếp cận thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng nông sản nước ta...
Nhìn nhận ở khía cạnh tích cực là vậy nhưng thực tế xuất khẩu nông sản vẫn đối diện với nhiều thách thức. Đó việc thực thi các FTA của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Thu hút đầu tư nước ngoài cũng mới chú trọng đến số lượng, chưa quan tâm nhiều đến chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội. Chưa thu hút được công nghệ để thúc đẩy xuất khẩu nông sản.
Thách thức nữa là còn thiếu các chính sách khuyến khích, tăng cường hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản và doanh nghiệp FDI để gia tăng nguồn vốn cũng như công nghệ, trình độ quản lý khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Các chính sách hỗ trợ xuất khẩu, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu cũng còn nhiều hạn chế...
Và điểm quan trọng nữa, như ý kiến của Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên là nền kinh tế nông nghiệp nước ta vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán. Nông sản xuất khẩu chủ yếu vẫn là sản phẩm thô, chưa có sản phẩm mũi nhọn, có giá trị gia tăng cao và thương hiệu mạnh... Sản xuất còn theo kiểu tự phát, manh mún, theo phong trào, dẫn đến việc nhiều lúc không kiểm soát được nguồn cung cho xuất khẩu. Chất lượng cũng không đồng đều, khó kiểm soát an toàn và khó áp dụng các chuẩn mực của thế giới về truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh đó, còn thiếu liên kết theo chuỗi từ khâu sản xuất, thu gom đến chế biến, tiêu thụ. Thiếu liên kết, phân công lao động cũng như tổ chức sản xuất theo lợi thế vùng và địa phương dẫn đến chuyên môn hóa thấp, dễ xảy ra ùn ứ cục bộ về nguồn cung và thị trường.
Như vậy có thể thấy, dù đạt được những kết quả nhất định nhưng xuất khẩu nông sản vẫn còn nhiều thách thức, cả trước mắt và lâu dài. Cho nên, vấn đề đặt ra là phải sớm hóa giải các thách thức thông qua việc triển khai hiệu quả các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển nông nghiệp; đặc biệt, xuất khẩu phải theo đường chính ngạch. Có như vậy mới bảo đảm bền vững.

