Vũ Ngọc Phan và giáo dục, văn hóa

Nói đến Vũ Ngọc Phan (1902-1987), người ta nghĩ ngay đến Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật mà ông được truy tặng, nhắc đến hai tập đại thành của ông là Nhà văn hiện đại, Tục ngữ và ca dao, dân ca Việt Nam. Thật ra, trước tác của Vũ Ngọc Phan rất lớn, trải trên nhiều bình diện, thể loại từ sáng tác cho đến phê bình, dịch thuật, nghiên cứu đến giáo dục.

Nhà văn Vũ Ngọc Phan thời trẻ

Nhà văn Vũ Ngọc Phan thời trẻ

Với Vũ Ngọc Phan, học phải thực chất, chuyên môn là trên hết. Vũ Ngọc Phan sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Bác ruột của ông là cử nhân, còn cha ông đỗ tú tài (Nho học), từng là huấn đạo (tương đương trưởng phòng giáo dục bây giờ). Tắm mình trong một môi sinh văn hóa như vậy, Vũ Ngọc Phan thừa hưởng vốn Hán văn dày dặn. Từ năm 1920, ông bắt đầu chuyển sang học chữ Pháp, đến năm 1929 thì ông đậu bằng tú tài Tây rồi đi dạy học tư, tham gia làm báo, dịch sách, viết sách... Điều đáng nói là ông học hành, nghiên cứu, viết lách với một tinh thần khoa học, luôn luôn sâu kỹ, cẩn trọng, lấy chất lượng làm đầu.

Về sự học, Vũ Ngọc Phan coi trọng thực học, thực tài. Trong hồi ký của mình, ông thể hiện quan niệm này rất rõ. Với nhiều trải nghiệm phong phú, ông suy ngẫm và đánh giá: “Tuy vậy có ông cử nhân rất dốt (…) và có ông đỗ phó bảng mà học lực thua cả tú tài. Còn có những ông chỉ đỗ tú tài hay cử nhân nhưng khét tiếng hay chữ, những tay đại khoa đều kính nể! (…) Có nhiều danh nho chỉ đỗ có tú tài, cử nhân thôi. Cao Bá Quát, Phan Huy Chú đều là bằng chứng”(1).

Hồi đó, một người có bằng tú tài Tây như Vũ Ngọc Phan là quý lắm. Ông dịch sách, viết báo không mệt mỏi để vừa có tiền độ nhật, vừa có điều kiện viết những tác phẩm dài hơi và để “gìn giữ và phát huy nền văn hóa ưu tú của dân tộc”(2). Trong học thuật và văn nghệ, ông luôn coi trọng hiệu quả và chân tài chứ không bao giờ nệ bằng cấp. Khi đang dịch truyện từ tiếng Pháp, tiếng Anh ra tiếng Việt cho tờ tạp chí Pháp Việt, nghe chủ bút cho rằng hễ có bằng cấp là dịch đúng, thay vì thích thú với lời khen gián tiếp, Vũ Ngọc Phan lại nghĩ khác, ông cho như thế là không đúng vì có nhiều người không có bằng cấp mà dịch rất hay và viết cũng rất hay.

Khi Pháp quay trở lại, Vũ Ngọc Phan cùng vợ là nữ sĩ Hằng Phương tình nguyện tham gia kháng chiến. Hai vợ chồng với bầy con nhỏ trải qua những tháng ngày gian khổ tột cùng của cuộc kháng chiến, nhất là giai đoạn đầu. Ông chứng kiến một số người không chịu được khó khăn đã “dinh tê” (còn phát âm là rinh tê, tiếng Pháp là rentrer, nghĩa là quay về) về thành. Ở Quần Tín, Thanh Hóa, ông là thành viên Đoàn Văn hóa kháng chiến Liên khu IV, tham gia giảng dạy các lớp văn hóa cho cán bộ thông tin tuyên truyền trẻ. Tuy thực hiện nhiệm vụ hết sức mình nhưng ông vẫn không hài lòng vì ông thấy do điều kiện thiếu tài liệu, sách vở hồi bấy giờ nên nội dung giảng dạy chưa được như ý muốn. Đó là suy nghĩ, cảm xúc của một nhà giáo chân chính.

Những trường hợp trên đây cho thấy Vũ Ngọc Phan có quan điểm vượt trước về sự học, nhất là vấn đề học tập suốt đời, tự đào tạo mà giáo dục thế giới hiện đại đề cao. Mỗi người, bằng ý thức và khả năng tự học, có thể thay đổi bản thân, đáp ứng yêu cầu của xã hội, bằng cấp chỉ là xuất phát điểm. Nó cũng chạm đến một nhiệm vụ lớn lao, thường trực của ngành giáo dục: tổ chức đánh giá người học sao cho thực chất ở tất cả các khâu.

Năm 1953, đang công tác ở Văn nghệ Trung ương, Vũ Ngọc Phan được điều động qua Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa. Ông nhớ lại cái buổi đầu ấy, bài vở viết xong thì gửi cho anh em góp ý nhưng gặp nhiều khó khăn. Qua thời gian dài, ông đúc kết: “Văn học nghệ thuật cũng như khoa học kỹ thuật, nếu cần có tập thể góp ý, thì cái tập thể ấy nhất định phải vững về chuyên môn”(3). Năm 1959, Ban Văn Sử Địa tách ra để thành lập Viện Văn học, Viện Sử học (địa lý thì chuyển về các trường đại học). Vũ Ngọc Phan được biên chế ở Viện Văn học, làm Tổ trưởng Tổ Văn học cận đại, dân gian. Ở đây, ông tham gia biên soạn bộ giáo trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (5 tập), được xem là nền tảng cho các bộ, cuốn giáo trình chuyên sâu sau này về văn học dân tộc. Cũng ở đây, ông và các cộng sự đã tham mưu và tổ chức thực hiện một hội nghị có tầm vóc “Diên Hồng” của bộ môn văn học dân gian (VHDG) toàn miền Bắc trong hai ngày 4 - 5/12/1961. Chính ông là người đề xuất thuật ngữ “dân gian văn học” (sau đổi lại thành VHDG cho thuận với từ pháp Việt Nam) để thay cho thuật ngữ văn học bình dân (VHBD) và văn học truyền khẩu (VHTK). Với độ lùi lịch sử học thuật, chúng ta thấy thuật ngữ VHTK chỉ nhấn mạnh được phương thức sáng tác, lưu truyền; thuật ngữ VHBD - khi đặt trong tương quan với văn học bác học - dễ dẫn đến nhận thức không đúng về giá trị, trong khi đó VHDG (dân gian là ở trong Nhân dân) là thuật ngữ toàn diện, bao hàm các bình diện, giá trị: VHDG là nguồn vỉa thẩm mỹ dân tộc cho văn học viết, kết tinh bao giá trị về kinh nghiệm, tâm hồn, tư tưởng của Nhân dân, thậm chí là “khuôn vàng thước ngọc” về lời ăn tiếng nói của quần chúng.

Quả thật, từ sự nghiệp đồ sộ của ông, chúng ta rút ra những bài học quý báu về văn hóa và giáo dục cho ngày hôm nay.

(1), (2), (3): Vũ Ngọc Phan, Những năm tháng ấy,

NXB Văn học, 2017.

Đặng Ngọc Hùng .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/vu-ngoc-phan-va-giao-duc-van-hoa-472125.html