Trống Duy tân, cờ Thực nghiệp

ĐNCT - Có những tiếng trống đã vang lên từ một trăm hai mươi năm trước, nhưng dư âm dường như chưa bao giờ tắt. Tiếng trống Duy tân ở Quảng Nam đầu thế kỷ XX là một tiếng trống như thế.

Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đã đánh thức một vùng đất bằng tư tưởng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Nhưng điều đáng nhớ hơn là các cụ không dừng ở lời nói suông. Tư tưởng ấy được đưa vào trường học, ra đồng, ra chợ, thành một cuộc thực hành xã hội rộng lớn.

Trong số những người theo đuổi con đường ấy, Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng thực học và thực nghiệp. Với cụ, học không phải để làm đẹp cho khoa bảng, mà để biết làm việc, biết làm ăn và biết tự đứng trên đôi chân của mình.

Trong bài “Quốc dân cần phải có những gì” đăng trên Tiếng Dân năm 1927, Huỳnh Thúc Kháng viết: “Mỗi người phải có mỗi nghề nghiệp riêng, trước là để nuôi lấy thân mình, sau là cho trọn nghĩa vụ đối với xã hội…”. Và cụ đi đến một nhận xét đáng lưu danh mãi mãi: “Ai cũng có nghề thì thành dân có nghiệp, dân đã có nghiệp thì nền kinh tế tự nhiên phát đạt, trăm công nghìn việc, cũng gốc từ nơi ấy mà ra”.

Đọc câu ấy hôm nay, mới thấy “thực nghiệp” trong tư tưởng Duy tân không đơn thuần là chuyện làm ăn. Đó là cách xây dựng một xã hội của những con người có nghề, có năng lực tự lập và có trách nhiệm với cộng đồng. Kinh tế, vì thế, không đứng ngoài chuyện canh tân đất nước.

Nhưng tư tưởng chỉ thật sự có sức sống khi nó bước ra khỏi sách vở. Ở Quảng Nam đã có những người tiên phong mở đường thực hành, thực nghiệp.

Lê Cơ ở Tiên Phước (cũ) là một minh chứng. Khi nhận chức lý trưởng, ông nghĩ: “Túng bất năng hành chi thiên hạ, do khả nghiệm chi nhất hương” - nếu không làm được việc lớn cho thiên hạ thì cũng có thể thử nghiệm trong một làng.

Nhờ đó mà Phú Lâm có trường quốc ngữ khai giảng năm 1904. Ban ngày dạy thanh niên, buổi tối dạy trung niên; ngày Chủ nhật có diễn thuyết, đọc thơ, sinh hoạt cộng đồng. Đến năm 1915, trường được mở rộng thêm. Từ chỗ năm 1905 chỉ có vài người biết chữ, đến năm 1908, trong khoảng 850 người từ 14 tuổi trở lên ở xã đã có hơn 650 người biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.

Không chỉ mở trường, Lê Cơ còn vận động lập vườn quế, lò rèn, tổ chức bảo hiểm trong làng, mở hội buôn đưa hàng xuống Hội An. Chính Huỳnh Thúc Kháng sau này viết về Lê Cơ trên Tiếng Dân: “Công việc ông lý nào có hèn đâu!”.

Bởi cái “không hèn” ấy chính là ở chỗ người ta không coi thường những việc nhỏ. Một trường học. Một cuộc buôn. Một lò rèn. Một vườn quế. Một nghề nghiệp. Một cách tổ chức đời sống. Những việc tưởng như nhỏ bé ấy, khi được làm bằng một tư tưởng lớn, có thể tạo nên sự thay đổi của cả một cộng đồng.

Phan Thúc Duyện ở Diên Phước (Điện Bàn) cũng đi trên con đường ấy. Đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, ông cùng những người đồng chí hướng tổ chức thương hội, nông hội, tài thực hội; khảo sát đất đai, khai hoang, lập đồn điền và sáng lập Hội thương Phong Thử. Sau này, ông tiếp tục góp sức làm đường sắt, xây ga Phú Cang, sân vận động, chợ và trường học, từng bước biến Phong Thử thành một thị trấn nhỏ trù phú.

Nhìn lại, có lẽ điều đáng suy ngẫm nhất của Phong trào Duy tân nằm ở chữ “thực”.

Thực học để có tri thức. Thực nghiệp để có sinh kế. Hội thương để biết liên kết. Khai dân trí không tách khỏi việc làm cho dân có nghề, có việc, có khả năng tự chủ.

Hơn một thế kỷ đã qua. Những thương hội xưa đã không còn, những ngôi trường Duy tân đã thành ký ức. Nhưng câu hỏi mà các cụ đặt ra vẫn còn đó: Muốn thay đổi một vùng đất, ta bắt đầu từ đâu?

Có lẽ câu trả lời của Lê Cơ vẫn giản dị là hãy bắt đầu từ nơi mình đứng. Và lời Huỳnh Thúc Kháng vẫn còn nguyên sức nặng, rằng mỗi người phải có một nghề, phải làm cho “dân có nghiệp”.

Tiếng trống Duy tân vì thế không chỉ gọi người ta đứng lên đổi mới mà còn nhắc người ta bắt tay thực hành, thực nghiệp.

Và có lẽ, đó là âm vang lâu bền nhất của một cuộc canh tân còn có ý nghĩa lớn lao trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước, trong đó có Đà Nẵng, xứ Quảng.

NGUYỄN ĐIỆN NAM

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/trong-duy-tan-co-thuc-nghiep-3353280.html