Hoa tử vi trên Cao Đỉnh

HNN - Trời đất đã chuyển sang thu mà hoa tử vi vẫn nở rực rỡ trên khắp các công viên, đường phố Huế. Đó là loài hoa được chọn để khắc lên Cao Đỉnh - đỉnh đầu tiên và lớn nhất trong chín chiếc đỉnh đồng (Cửu Đỉnh) trong Hoàng cung Huế.

Hoa tử vi ở công viên đồi Vọng Cảnh. 

Hoa tử vi ở công viên đồi Vọng Cảnh. 

Hoa tử vi được chọn là một trong chín loài hoa đại diện cho muôn hoa ở nước Đại Nam bấy giờ để khắc lên Cửu Đỉnh - bộ bách khoa thư về đất nước Việt Nam trên những đỉnh đồng, đã được xếp hạng Bảo vật Quốc gia và UNESCO ghi nhận là Di sản tư liệu châu Á - Thái Bình Dương. Vì sao hoa tử vi lại hân hạnh là loài hoa đầu tiên được chọn để khắc trên Cao Đỉnh - đỉnh lớn nhất và nằm ở vị trí trung tâm của Cửu Đỉnh? 

Loài hoa cổ xưa nở suốt trăm ngày

Tài liệu thực vật học cho biết, tử vi là loài thực vật có hoa, tên khoa học là Lagerstroemia indica L., thuộc họ bằng lăng (Lythraceae), chi bằng lăng (Lagerstroemia). Tử vi là loài tiểu mộc, thân gỗ nhưng lại có hình dạng cây bụi, cao khoảng 3 - 5m. Phạm vi bản địa của loài này phân bố từ dãy Himalaya đến Nam Trung Quốc và Đông Á.

Hoa tử vi có hình dáng rất độc đáo. Mỗi bông hoa thường có sáu cánh. Mỗi cánh hoa lại nở tách ra riêng như một bông hoa nhỏ, hình dáng xoăn như tờ giấy mỏng. Các cánh hoa lại có cuống nối với đài hoa, tạo thành một bông hoa mà như một chùm hoa. Quan sát kỹ mới thấy rõ chùm hoa đó là sáu cánh của một bông hoa. Giữa bông hoa màu tím là một chùm nhụy với bao phấn vàng.

Tài liệu “Trung Quốc thực vật chí” cho biết, hoa tử vi nở rộ liên tục từ tháng 6 đến hết tháng 9 dương lịch, kéo dài hơn ba tháng, từ mùa hạ sang mùa thu, nên còn có tên là “Bách nhật hồng” (trăm ngày đỏ). Đây là một trong vài loài cây có thời gian ra hoa dài nhất trên trái đất. Thời gian đậu quả cũng kéo dài hơn ba tháng, từ tháng 9 đến tháng 12, với những chùm trái giống như trái bằng lăng nhưng nhỏ như trái sim. Tử vi cũng là loài có tuổi thọ rất cao, có cây thọ đến 1.400 năm, là biểu tượng của đức kiên trì và vinh quang rực rỡ.

Tử vi còn là một loài thực vật cổ xưa. Các nhà cổ sinh vật học đã phát hiện ra hóa thạch phấn hoa của loài thực vật Lagerstroemia cathayensis sp. nov. thuộc chi thực vật có tên Lagerstroemia tại lớp trầm tích thuộc thế Miocene (cách nay từ 5,33 đến 23,03 triệu năm trước) ở tỉnh Triết Giang (Trung Quốc). Chi thực vật này có các loài cây cảnh được biết đến với tên gọi chung là “Crape Myrtles” (hoa tử vi).

Các tài liệu lịch sử và văn hóa của Trung Quốc còn cho thấy loài hoa này đã có mặt trong đời sống người  Trung Quốc từ thời cổ đại. Tài liệu ghi chép sớm nhất về việc trồng cây tử vi là sách “Thập di ký” do đạo sĩ Vương Gia thời Đông Tấn viết. Chương 9 của sách này có chép, vào năm Nguyên Hy thứ nhất (năm 419 sau Công nguyên), triều đình nhà Đông Tấn đã lệnh cho trồng cây tử vi tại các cung điện ở kinh đô và vườn dân gian ở khắp trong ngoài thành Lạc Dương, nhằm giải hạn “sao Hỏa phạm cung Tử vi”. Cung Tử vi là nơi ngự của sao Tử vi - ngôi sao bản mệnh của Đế vương. Điều này cho thấy việc trồng hoa tử vi vào thời Đông Tấn (hơn 1.600 năm trước) đã bắt đầu phổ biến.

 Hoa tử vi trồng ở công viên Lý Tự Trọng.

 Hoa tử vi trồng ở công viên Lý Tự Trọng.

Loài hoa cao quý,  toàn thân đều là thuốc

Loài hoa cổ ấy được người Trung Quốc xưa “khai sinh” với một bản lý lịch rất cao sang. Tên gọi hoa tử vi 紫薇 thoạt tiên là gọi tên theo đặc điểm hình dáng, màu sắc của hoa. Theo Hán tự, chữ Tử 紫 là màu tím, chữ Vi 薇 là một loài thảo mộc nhỏ. Vương Thế Mậu, đời Minh, viết trong sách “Học phố tạp sơ” (Ghi chép tạp kỹ về trồng trọt): “Cây tử vi có bốn loại: Tím, đỏ, hồng, trắng, nhưng màu tím mới là màu chính thức”. Đó là lý do tại sao hoa ấy được gọi là tử vi: Loài cây nhỏ có hoa màu tím.

Màu tím vốn là biểu tượng của sự trang nghiêm, cao quý và là màu của vua chúa Trung Quốc từ thời cổ đại. Nhưng đến thời nhà Đường (thế kỷ VII - VIII) thì màu tím được tôn vinh một cách đặc biệt. Vào năm Khai Nguyên thứ nhất (năm 713), vua Đường Huyền Tông đã đổi tên Trung Thư Tỉnh (cơ quan đứng đầu trong bộ máy của triều đình) thành Tử Vi Tỉnh. Chức quan đứng đầu là Trung Thư Lệnh (tương đương Tể tướng) đổi thành Tử Vi Lệnh. Đồng thời, triều đình cho trồng rất nhiều hoa tử vi trong khuôn viên Tử Vi Tỉnh. Từ đó, khắp các cung phủ của giới quý tộc, quan viên đều trồng hoa tử vi trước nhà. Vì vậy, hoa tử vi được gọi là “Quan dạng hoa”: loài hoa biểu tượng của giới quan lại.

Trong y dược cổ truyền Trung Quốc, tử vi được ghi nhận là loài cây “toàn thân đều là thuốc” (tử vi toàn thân giai khả nhập dược). Tài liệu y học cổ truyền của Việt Nam cho biết, tử vi có nhiều hoạt tính sinh học đa dạng, bao gồm hoạt tính chống viêm, chống ung thư, điều hòa thần kinh, chống tiểu đường và chống oxy hóa. Hoa tử vi dùng hãm trà uống giúp giảm đau đầu do nắng nóng, nhức mỏi. Lá và cành non: kháng khuẩn, trị tiêu chảy, chữa mụn nhọt, mẩn ngứa. Vỏ, thân và rễ: giải độc, hoạt huyết, trị đau nhức xương khớp, bong gân, chấn thương...

Tử vi còn có một đặc điểm rất lạ, đúng với nghĩa đen “kỳ hoa dị thảo”: cây sợ nhột. Bạn chỉ cần đưa ngón tay gãi lên thân cây thì lập tức cành và lá sẽ rung lên như cơ thể bị nhột. Nếu bạn dùng cả bàn tay ve vuốt thân cây thì cả tán cây rùng mình và nghe như có tiếng cười xào xạc. Vì vậy, tử vi còn có biệt danh là phạ dưỡng hoa (hoa sợ nhột). Vào ngày 12/6/2018, Liên minh Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa cây tử vi vào danh sách đỏ các loài có nguy cơ tuyệt chủng của thế giới, để bảo vệ nguồn gen quý giá này.

 “Tử vi hoa” trên Cao Đỉnh.

 “Tử vi hoa” trên Cao Đỉnh.

Tử vi ở Việt Nam

Dữ liệu của Vườn thực vật Hoàng gia Anh (Kew - Royal Botanic Gardens) cho biết loài tử vi Lagerstroemia indica L. có phạm vi bản địa từ dãy Himalaya đến Nam Trung Quốc và Đông Dương. Thông tin loài này được Carl Linnaeus công bố chính thức vào năm 1759. Theo thông tin này có thể hiểu, từ giữa thế kỷ XVIII, người ta đã nhìn thấy loài thực vật tử vi trong thiên nhiên Việt Nam, và có thể đã có mặt sớm hơn năm 1759.

Trong sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn viết năm 1773, bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam, đã nhắc đến hoa tử vi ở Trung Quốc, và cho hay: nay ở chỗ nào (ở nước Đại Việt) cũng thấy có. Cụ thể, ở quyển IX Phẩm vật loại, Lê Quý Đôn chép: “Sách Thư truyền chính ngộ nói: “Người ta lấy thứ hoa bách nhật hồng, nở vào tháng 6, gọi là hoa tử vi, sắc nó có hai màu, vừa hồng, vừa tía, cây cao tầm 1 trượng, da cây mỏng, mà trắng, hoa nở chi chít, trông rất thích. Nay chỗ nào cũng thấy có”.

Đến thời Nguyễn thì hoa tử vi đã có mặt trong đời sống của người Việt. Sách “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sử quán Triều Nguyễn biên soạn dưới thời Tự Đức, đã chép về loài hoa tử vi như là một sản vật của nước Đại Nam. “Hoa tử vi: Quần phương phổ gọi là bách nhật hoa, là phạ dưỡng hoa, nếu gãi vào vỏ cây thì suốt từ gốc đến ngọn cây đều rung động. Thời Đường, trong cung cấm trồng nhiều cây này vì hoa tươi lâu. Ngoài sắc tía ra lại có hai sắc nữa là đỏ và trắng, hoa tía lại pha màu xanh thẫm gọi lá thúy vi. Năm Minh Mệnh thứ 17 khắc hình tượng vào Cao Đỉnh”.

 Hoa tử vi trước sân Thư viện thành phố.

 Hoa tử vi trước sân Thư viện thành phố.

Năm 1835, Vua Minh Mạng cho đúc Cửu Đỉnh, sai các nghệ nhân khắc lên các đỉnh hình tượng núi sông, cây cỏ, muông thú cùng các sản vật mang tính đại diện cho đất trời và sản phẩm của con người nước Đại Nam. Trên mỗi đỉnh có một loài hoa đại diện cho muôn hoa. Hoa tử vi đã vinh dự được lựa chọn để khắc lên Cao Đỉnh - chiếc đỉnh đầu tiên, lớn nhất, đặt ở vị trí trung tâm, tượng trưng cho sự vĩ đại. Trên Cao Đỉnh, hình ảnh cây hoa tử vi với cành lá uyển chuyển và những bông hoa đang nở, cùng ba chữ Hán 紫薇花 (tử vi hoa).

Vì sao tử vi được chọn?

Vì sao nước Đại Nam có muôn vàn loài hoa, mà Triều Nguyễn lại chọn hoa tử vi để khắc lên Cao Đỉnh?

Nhà nghiên cứu Dương Phước Thu, tác giả sách “Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế”, cho rằng: “Do đặc diểm của cây tử vi rất lạ: vừa có hoa, vừa có hương sắc lại giữ được tươi lâu, và thành phần có nhiều dược tính mang lại lợi ích cho đời sống con người, cho nên hoa tử vi được cổ nhân xem như một loài kỳ hoa dị thảo”. Những loài cây, hoa, quả cũng như muông thú, sản vật được chọn khắc lên Cửu Đỉnh phải là thứ quý giá, điển hình, không chỉ mang ý nghĩa tốt đẹp mà còn phải có ích lợi lớn cho đời sống con người. Hoa tử vi đã hàm chứa đầy đủ các tiêu chí ấy.

Đến đây thì tuyệt nhiên chúng ta đã hiểu vì sao hoa tử vi được đặt ở vị trí cao quý, “thánh của các loài hoa”. Hoa ấy quả thật là một vị khách cao quý. Người khách quý đến từ thời tiền sử của loài người, mang tên của vì sao trung tâm trên bầu trời mà các bậc đế vương xem là bản mệnh. Người khách đó bước vào nhà ai là mang theo khí vị cát tường. Đứng giữa nắng hạ mà nở nụ cười rạng rỡ suốt trăm ngày. Chạm vào cây là hoa lá rung lên. Ngày đông tháng hạ làm ra chén thuốc quý chữa bệnh cho người. Hoa như thế là thứ sản vật thật quý hiếm trong đất trời. Quả nhiên là kỳ hoa dị thảo!

Xin đừng nhầm lẫn tử vi với tường vi 

Ở Việt Nam lâu nay, nhiều người và ngay cả sách báo vẫn gọi nhầm tên hoa tử vi  là hoa tường vi - một loài thuộc họ hoa hồng (Rosaceae), có tên khoa học là Rosa multiflora, tên gọi khác là: tầm xuân, hồng tiểu muội, hồng dại. Đây là một giống hoa hồng cổ, có nguồn gốc từ Trung Quốc và Đông Á. Ở Việt Nam, người ta thường trồng tường vi trên bờ rào để vừa tạo cảnh vừa tạo hàng rào gai. Khi dịch bài thơ “Tử vi hoa” của Bạch Cư Dị, dịch giả Ngô Văn Phú lại nhầm lẫn, dịch câu thơ “Tử vi hoa đối tử vi lang” là “Hoa tường vi lại ngắm chàng tường vi”.

Minh Tự

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/hoa-tu-vi-tren-cao-dinh-169827.html