AI, robot mở rộng giới hạn phẫu thuật
AI, robot và công nghệ 3D đang mở rộng giới hạn của phẫu thuật hiện đại, giúp bác sĩ nâng cao độ chính xác và cá thể hóa điều trị. Tuy nhiên, vai trò của bác sĩ và y đức luôn được đặt lên hàng đầu bên cạnh những công nghệ mới.

GS.TS Trần Bình Giang, Chủ tịch Hội Ngoại khoa và Phẫu thuật Nội soi Việt Nam. Ảnh Nguyễn Lê.
AI hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch phẫu thuật chính xác hơn
Ngày 17/9, tại TP Huế, Hội nghị Khoa học Ngoại khoa và Phẫu thuật Nội soi toàn quốc năm 2026 (VASEL 2026) với chủ đề “Đổi mới công nghệ - Tích hợp AI phát triển phẫu thuật nội soi” thu hút hơn 700 đại biểu trong và ngoài nước tham dự. Với 264 báo cáo được trình bày và một phiên video, nội dung sự kiện tập trung vào những tiến bộ mới trong phẫu thuật nội soi, robot, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ hình ảnh 3D và in 3D.
Theo GS.TS Trần Bình Giang, Chủ tịch Hội Ngoại khoa và Phẫu thuật Nội soi Việt Nam, việc kết hợp công nghệ thông tin, dữ liệu lớn (Big Data), robot và y học từ xa đang trở thành yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của ngoại khoa.

Y bác sĩ Bệnh viện Trung ương Huế thực hiện kỹ thuật mới trong thực hành chuyên môn phẫu thuật nội soi. Ảnh Nguyễn Lê.
Các báo cáo tại VASEL 2026 cho thấy AI không còn dừng ở nghiên cứu mà đang được đưa vào nhiều khâu của quá trình khám, chẩn đoán và điều trị. AI hỗ trợ quyết định lâm sàng, phân tích y văn, định vị phẫu thuật, lập kế hoạch can thiệp và đánh giá nguy cơ bệnh lý.
PGS.TS.BS Lê Nghi Thành Nhân, Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại, Phó Giám đốc Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, dẫn chứng nhiều kết quả đáng chú ý trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình.
Với các trường hợp gãy xương mới, AI có độ nhạy khoảng 90%, độ đặc hiệu 92%, đồng thời giúp giảm 29% tỷ lệ bỏ sót gãy xương so với một số phương pháp đánh giá lâm sàng. Trong định danh khớp nhân tạo, độ chính xác của AI đạt 97-100%. Với tổn thương dây chằng, sụn chêm, AI đạt độ nhạy 96,9% và độ chính xác 95,3%.
AI cũng được sử dụng để hỗ trợ lựa chọn kích thước khớp nhân tạo trong phẫu thuật thay khớp háng, khớp gối với độ chính xác từ 90% trở lên. Nếu phương pháp đo đạc trên hình ảnh 2D trước đây có thể mất khoảng 30 phút, phần mềm AI kết hợp hình ảnh 3D chỉ cần khoảng 233 giây, độ chính xác cao hơn phương pháp template 2D thủ công khoảng 44,7%.
Robot và in 3D: Cá thể hóa điều trị, giảm thời gian can thiệp
Một hướng phát triển khác được giới chuyên môn quan tâm là robot và công nghệ in 3D. Theo PGS Nhân, việc ứng dụng in 3D cho phép bác sĩ xây dựng phương án phẫu thuật phù hợp với đặc điểm giải phẫu của từng người bệnh, thay vì áp dụng một mô hình chung.
Công nghệ này có thể giúp giảm 10-40% thời gian phẫu thuật, giảm 40-50% thời gian phơi nhiễm tia X. Với một số phẫu thuật thay khớp nhân tạo và cột sống, tỷ lệ thành công được báo cáo lên tới 87%.

AI và robot đang được sử dụng rộng rãi trong các ca phẫu thuật ở Việt Nam. Ảnh Nguyễn Lê.
Trong phẫu thuật thay khớp gối, robot hỗ trợ căn chỉnh chính xác. Với yêu cầu căn chỉnh dưới 3 độ, robot đạt tỷ lệ 100% so với 75% ở phương pháp thủ công; dưới 2 độ, tỷ lệ tương ứng là 93% và 63%.
Robot còn có ý nghĩa trong những kỹ thuật đòi hỏi độ chính xác rất cao. Khi phẫu thuật viên thực hiện nối các mạch máu hoặc cấu trúc có đường kính dưới 0,3 mm, run tay sinh lý có thể ảnh hưởng đến thao tác. Hệ thống robot hỗ trợ kiểm soát chuyển động, qua đó mở rộng khả năng thực hiện các kỹ thuật siêu vi phẫu.
Công nghệ phải đi cùng y đức và trách nhiệm của bác sĩ
VASEL 2026 cũng đặt ra vấn đề về giới hạn và trách nhiệm khi đưa AI vào y khoa. PGS Nhân nhấn mạnh, dù sử dụng AI, trách nhiệm pháp lý trong điều trị vẫn thuộc về phẫu thuật viên.
Tương lai của chấn thương chỉnh hình sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào các ê-kíp lâm sàng có khả năng khai thác dữ liệu và AI để tối ưu hóa kết quả phẫu thuật, nhưng công nghệ phải được đặt trong quy trình chuyên môn và khuôn khổ pháp lý phù hợp.
GS.TS.BS Phạm Như Hiệp, Phó Chủ tịch Hội Ngoại khoa và Phẫu thuật Nội soi Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế khẳng định: “AI không thay thế phẫu thuật viên. Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi được tích hợp một cách phù hợp với kiến thức, kinh nghiệm lâm sàng, kỹ thuật và y đức.”

Các chuyên gia, bác sĩ chụp ảnh lưu niệm tại Hội nghị Khoa học Ngoại khoa và Phẫu thuật Nội soi toàn quốc năm 2026 (VASEL 2026). Ảnh Nguyễn Lê.
Ông cho biết ngoại khoa và phẫu thuật nội soi luôn là những lĩnh vực được quan tâm đầu tư và không ngừng đổi mới, từ kỹ thuật nội soi cơ bản đến phẫu thuật ít xâm lấn, phẫu thuật robot và hỗ trợ hình ảnh hiện đại.
Việc VASEL 2026 tập trung vào AI, robot, dữ liệu lớn và công nghệ 3D cho thấy ngoại khoa Việt Nam đang chuyển từ mục tiêu làm chủ kỹ thuật ít xâm lấn sang cá thể hóa và tối ưu hóa phẫu thuật bằng công nghệ. Đây là hướng đi có thể góp phần rút ngắn thời gian can thiệp, tăng độ chính xác và nâng cao chất lượng điều trị. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ y tế và cách thức kiểm soát công nghệ trong thực hành lâm sàng.
Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/ai-robot-mo-rong-gioi-han-phau-thuat-post205934.html

