Quà quê
Người chạy xe ôm dừng trước một nhà hàng sang trọng. Ánh đèn rực sáng lấp lóa làm Hùng ngần ngại. Mấy cô gái quần áo thiếu vải ríu rít chào mời càng làm Hùng luống cuống vì bộ dạng xuề xòa có phần dơ dáy của mình sau một ngày bụi đường, cái giỏ đệm quê mùa có bốn trái dưa hấu trên tay như nặng trĩu hơn. Một cô giằng lấy cái giỏ khỏi tay Hùng.

Tranh minh họa
- Anh để em xách vào cho. Em gửi ở quầy thu ngân, khi về anh nhớ lấy, nha!
Cô gái nũng nịu. Hình như Hùng nổi da gà ở cánh tay. Cô gái chắc chắn còn ít tuổi hơn con gái út của anh. Hùng buông cái giỏ dưa cho cô gái, nghĩ vui: “Ba em phải kêu anh… bằng bác!”.
Căn phòng mát lạnh, ánh đèn màu dịu mắt, chậm rãi thưởng thức từng ngụm bia tươi của nhà hàng nấu theo nguyên liệu và công thức của hãng bia danh tiếng nước ngoài, bao mệt nhọc trong người Hùng như tan biến. Có mùi nước hoa phảng phất, cô tiếp viên gọi Hùng bằng anh bước nhẹ vào phòng xin phép được ngồi cùng. Hùng ngượng ngùng, từ lâu anh chỉ quen uống rượu với mấy ông bạn ngư dân quen suồng sã mày tao. Hùng lịch sự nói với cô tiếp viên anh muốn ngồi một mình, đợi bạn anh tới rồi hãy cùng vào.
Thanh sà vào phòng như cơn lốc cùng hai cô tiếp viên, bạn ôm chầm Hùng rồi xô anh ra.
- Để tao ngắm một chút xem mày có thay đổi gì không?
Hai cô tiếp viên lấy khăn trong chiếc dĩa ướp đá lạnh lau mặt cho khách. Hùng ngượng ngịu. Trời đất! Gần cuối đời mới có người thứ hai lau mặt cho Hùng, ngoài má anh lau mặt cho anh lúc anh còn lẫm chẫm bước và té úp mặt trên cát biển ở quê.
Cô tiếp viên có vẻ là bồ ruột của Thanh, cô ngồi trong lòng anh, âu yếm hết đút mồi lại nâng ly bia tận miệng bạn. Hùng nhỏ nhẹ nói cô phục vụ mình.
- Cháu cứ để bác tự nhiên…
Thanh phá lên cười làm cả ba sặc bia, trừ Hùng.
- Mày tếu quá! Thằng khỉ…
Thanh vỗ vai bạn. Hùng cười giả lả.
- Tao nói thiệt mà! Tao không quen cách xưng hô này.
Hùng lầm lì nốc bia, cô tiếp viên liên tục rót bia từ chiếc bình thủy tinh khi anh chưa kịp cạn ly, thỉnh thoảng anh cụng ly với cô nhưng không nhìn cô mà nhìn màu bia vàng óng sóng sánh trong chiếc bình thủy tinh cao, rộng bụng mà hẹp miệng.
Sau vài câu thăm hỏi nhau về việc làm, về gia đình, về vài người bạn chung của hai người; hai người bạn lặng lẽ cụng ly. Thanh tự nhiên đú đởn với cô gái ngồi trong lòng, nhìn bạn với ánh mắt khuyến khích khi Hùng bỏ mặc ô gái ngồi bên, chỉ thỉnh thoảng nâng ly mời cô. Tình bạn giữa hai người đàn ông từng gắn bó trong một hoàn cảnh khắc nghiệt, sẵn sàng dùng thân mình che chắn cho bạn lúc mười phần chết một phần sống, hiện tại dù xa cách nhưng không cần nhiều lời mới biểu lộ được mối thâm tình.
Gần tàn tiệc, dĩa dưa hấu tráng miệng được mang ra. Những miếng dưa đỏ tươi cắt hình lưỡi liềm xếp quanh trong lòng chiếc dĩa sứ men trắng hình tròn. Hùng nhớ tới mấy trái dưa mang tặng bạn.
- Sáng nay xe dừng ở làng cát ngày xưa tao với mày nằm hầm, tao chợt nhớ chuyện hai thằng bị kiểm điểm vì hái trộm dưa của dân làng.
Thanh ngớ ra rồi vỗ đùi, cười lớn.
- Tao nhớ rồi, nắng trưa cháy rát cổ họng, bợ có mấy trái dưa lấy hột ăn đỡ khát nước, làm như trộm cắp của cải quý báu lắm mà kiểm điểm, đòi kỷ luật.
Năm tháng đó, vùng cát đó chiến tranh rất ác liệt. Trảng cát nối nhau trùng điệp, trên mặt cát chỉ mọc lùm bụi. Người dân sống trong cát, hít thở bụi cát, trồng tỉa trên cát. Thiên nhiên ưu đãi người dân vùng cát một bàu nước ngọt ở vùng đất trũng cuối làng. Bàu nước khá lớn, đã bao đời không hề cạn nước, nơi nước mưa xung quanh dồn lại và bàu không hề cạn là nhờ những mạch nước ngầm từ sâu trong các động cát chảy ra. Nước trong bàu là nguồn sống của người dân và cây trồng vào mùa khô hạn.
Du kích sống bám vào dân trong những hầm ngầm đào sâu trong cát. Thanh và Hùng đã chiến đấu một thời gian dài trong điều kiện khắc nghiệt như thế, đã có nhiều đồng đội của họ hi sinh khi bị phục kích vì đi lấy nước từ bàu khi cả tháng trời nắng đổ lửa từ tầng cao xuống, nắng hực lửa từ cát bốc lên, con người khô lại quắt queo như con cá khô cong mình cháy sém trên lửa.
Không người nào thưởng thức món tráng miệng. Bia, thịt ê hề đầy bàn và không bụng nào còn chỗ trống. Hùng nhìn dĩa dưa đỏ thắm, màu đỏ cứ chập chờn nhảy nhót. Hùng dụi mắt, có lẽ bia rượu làm anh chếnh choáng vì màu dưa đỏ như màu máu đổ trên cát trắng năm xưa của đồng đội anh và Thanh.
Chiếc xe hơi của thuộc cấp Thanh đưa hai người rời nhà hàng. Thanh nài nỉ Hùng về nhà mình ngủ rồi mai bạn sẽ đưa đến bến xe nhưng anh không muốn làm phiền bạn. Trước lúc chia tay, Hùng sực nhớ mấy trái dưa mang từ quê nhà lên thành phố, anh tiếc rẻ.
- Quên mất mấy trái dưa tao mang cho mày gửi chỗ quầy thu ngân. Thôi! Để cho tụi tiếp viên.
Thanh nhún vai.
- Mấy đứa nó không ăn loại dưa đó đâu! Nó ăn loại dưa giống Thái Lan to như cái thúng chớ ăn chi loại dưa lấy hột đó!
Hùng muốn hỏi bạn: “Mày cũng không còn ăn loại dưa lấy hột đó?”. Nhưng rồi anh chỉ siết chặt bàn tay mềm mại của bạn, tự giễu cợt mình đã không bắt kịp sự thay đổi của nhịp sống hiện tại.
* * *
Xe đò nghỉ giữa chuyến hành trình ở một trạm dừng chân. Hành khách xuống xe vào nhà ăn, khu vệ sinh. Hùng đứng ngoài bãi xe, anh châm điếu thuốc, thảnh thơi nhìn mọi người vội vã. Thỉnh thoảng, người thợ sửa máy thuyền đánh cá cho ngư dân làng biển quê anh đi thành phố để mua hàng là phụ tùng máy thủy. Mọi lần, Hùng đi chuyến xe ba giờ sáng, đến nơi lúc sáu giờ, tất bật đến tiệm quen gom hàng, trả tiền rồi lên chuyến xe cuối cùng trở về nhà trong đêm. Lần này, anh sẽ ở lại thành phố một đêm vì phải mua nhiều hàng ở nhiều cửa tiệm.
Trước kia, Hùng đi thành phố dài ngày hơn nhưng đó là vào mấy năm đầu thập niên một chín tám mươi. Hai trăm cây số xe chạy mất hơn một ngày, rồi lặn lội tìm kiếm hàng hóa nên trở về nhà mất bốn năm ngày là bình thường, vì mấy năm đó phương tiện di chuyển chính là xe than. Xe than ngoài chạy bằng than còn vì hành khách ngồi trên xe đau lưng cuồng cẳng cứ luôn miệng than… Xe than! Ơi là xe than!
Xe than là sáng kiến của một thời thiếu hụt nhiên liệu trầm trọng, cái bình than gắn sau thân xe tạo nguồn khí nóng thay xăng dầu để vận hành bộ máy làm bốn bánh xe chuyển động. Mùa đông, hành khách đi xe than có cái thú thưởng thức ấm áp do khí nóng từ cái bình than, mà thỉnh thoảng người lơ xe dùng khúc gỗ đập bộp bộp vào thành bình để dồn than, lan tỏa. Nhưng vào mùa nắng đổ lửa thiêu cháy lá cây lùm bụi ven đường, ngồi trong lòng chuyến xe than chậm chạp thở phì phò ì ạch liếm từng mét đường thì hành khách chỉ ước ao… có dòng sông chảy ngang trước mặt. Đó là không kể có khi hệ thống dẫn khí nóng cung cấp từ bình than trở chứng sao đó làm chuyến xe dừng bánh bên bìa rừng vắng giữa khuya.
Các loại phụ tùng máy thủy ngày đó rất khan hiếm vì hàng nhập khẩu thường là của Nhựt Bổn trước đây đã cạn kiệt, Hùng phải chực chờ các thợ tiện có tay nghề “độ” các chi tiết máy không còn trên thị trường, tất nhiên là mua bán ở thị trường chui và người thợ cũng làm chui vì các chính sách cải tạo công thương nghiệp: Chỉ cửa hàng quốc doanh mới có bán một số hàng hóa theo đơn được duyệt và các xưởng cơ khí tư nhân đều đã đóng cửa.
Bây giờ, các loại phụ tùng máy móc ngư dân quê Hùng cần thiết đều có đầy đủ, anh có thể chỉ một cú phôn là chủ hàng gửi xe đò về tận cửa nhà nhưng thỉnh thoảng ngoài đi mua hàng, anh còn dành nhiều thời gian ở một xưởng sửa chữa máy thủy động cơ của một người thầy nhiều kinh nghiệm để học hỏi nghề nghiệp.
Nhờ có tinh thần cầu tiến, tận tâm với khách hàng và tính toán giá cả phải chăng, tiệm sửa máy thủy của Hùng rất có uy tín khắp mấy làng biển, giúp cuộc sống của gia đình anh ngày một sung túc. Hùng còn có nhiều học trò giúp việc nên máy móc được sửa nhanh chóng cho ngư dân kịp thời bám biển.
Mải suy nghĩ lan man, Hùng chợt nhìn thấy một người phụ nữ lam lũ với gánh dưa hấu ngồi bên ngoài hàng rào lưới sắt của trạm dừng chân. Hàng quán bên trong vòng rào là của chủ đầu tư trạm dừng chân, họ bán hàng hay cho thuê mặt bằng, người dân quê quanh vùng muốn bán chút đỉnh cây trái vườn nhà chỉ được thập thò bán bên ngoài vòng rào. Hùng nảy ý định mua vài trái dưa hấu trồng trên vùng cát trắng ở đây. Hùng bước ra khỏi cổng trạm dừng chân, đi về phía người phụ nữ. Người phụ nữ lam lũ mặc chiếc áo bà ba màu nâu đã bạc màu, lâu lắm rồi Hùng mới thấy lại một người mặc áo bà ba, ở quê biển của anh hiếm người mặc áo kiểu này, các bà lớn tuổi thường mặc áo túi có hai cái túi to may hai bên vạt áo, còn các thiếu nữ thì mặc đủ kiểu áo có nhiều tên gọi.
Gương mặt khắc khổ của người phụ nữ khó đoán được số tuổi vì trông thật già nua khiến anh chạnh lòng. Anh nhờ chị chọn bốn trái dưa ngon nhất trong gánh dưa chị bán và mua giùm anh một cái giỏ đệm. Anh không nhận tiền thối lại, nói với chị dùng để mua kẹo cho các cháu. Anh từng sống và chiến đấu nhiều năm ở miền đất cát trắng này, đã chứng kiến nhiều cuộc đời lam lũ của người dân nơi đây, họ bươi móc trong cát để tìm cái ăn và khi về với cát, gần như mỗi người trong số họ đều đau đáu một nỗi niềm mong sao cho con cháu mình không phải vất vả nhiều như cuộc đời họ.
Ngày xưa, người dân ở vùng này canh tác nhờ nước trời. Năm nào mưa thuận gió hòa, khoai sắn tươi tốt họ không phải chạy ăn từng bữa. Năm nào những đám mây mang hơi nước không neo đậu trên bầu trời, chỉ có ánh nắng mặt trời soi mói từng lùm bụi, làm cháy quắt queo từng mầm lá sơ sinh thì mọi người lại khốn khổ vì chạy tìm cái bỏ vào bụng. Loại cây cho huê lợi mà người dân thường trồng tỉa ở đây là dưa hấu lấy hột. Giống dưa hấu lấy hột trái nhỏ, ruột đỏ và cho nhiều hột. Khi thu hoạch, người ta để dưa chín nẫu để lấy hột là chính. Hột dưa được phơi khô rồi đóng bao bán cho các vựa chế biến bằng cách rang chín, nhuộm màu; là món hàng được ưa chuộng vào dịp tết.
Trong chiến tranh, Hùng và Thanh bám trụ ở vùng đất cát trắng chuyên canh giống dưa lấy hột này. Người dân ở đây kiên trung với cách mạng, đã bảo vệ hai anh đến ngày thắng lợi cuối cùng. Thấy người phụ nữ và gánh dưa, Hùng nhớ đến bạn. Thanh sống ở thành phố, Hùng nghĩ nhân chuyến đi này, anh sẽ ghé thăm bạn. Lâu rồi hai người bạn từng sống chết có nhau chưa gặp lại.
Mọi việc mua bán đã xong. Anh điện thoại cho Thanh. Thanh hẹn anh ở một nhà hàng lúc bảy giờ tối vì còn giải quyết nhiều việc ở cơ quan. Thanh dặn Hùng cứ đến nhà hàng X. nói là bạn của Thanh, nhà hàng sẽ sắp xếp phòng riêng, anh cứ thoải mái gọi món ăn và lai rai trước.
Thanh là cán bộ cấp trưởng phòng một sở của thành phố.
