Một đời giữ trọn khí tiết
ĐNCT - Lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ghi nhận chân dung một trí thức kiệt xuất: Cụ Huỳnh Thúc Kháng. Không đi theo lối mòn học hành ra làm quan, cuộc đời cụ là chuỗi những lựa chọn dấn thân trước các bước ngoặt của dân tộc; ở đó chỉ thấy trọn đời một khí tiết bất biến hết lòng vì nước, vì dân.

Bằng cử nhân của cụ Huỳnh Thúc Kháng (năm 1900). Ảnh: NGUYỄN ĐÔNG
Năm 1904, Huỳnh Thúc Kháng đỗ Tiến sĩ - đỉnh cao học vấn mà mọi sĩ phu đương thời đều mơ ước. Trong bộ máy cai trị của triều đình nhà Nguyễn dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, một tấm bằng Tiến sĩ đồng nghĩa với một vị trí quan lại hiển vinh. Tuy nhiên, đứng trước ngã rẽ giữa con đường quan lộ “êm ái” và con đường dấn thân gập ghềnh, cụ Huỳnh đã đưa ra quyết định là “cáo bệnh, không chịu ra làm quan”.
Cần nói thêm rằng, sở dĩ Huỳnh Thúc Kháng đi thi Tiến sĩ là để chiều lòng cha, bởi có lần ông tâm sự: “Lâu nay chí kỳ vọng của gia nghiêm (thân phụ cụ Huỳnh) cốt ở thi đỗ đại khoa, nay thế là đạt mục đích, còn việc làm quan chẳng phải là điều mong muốn” (Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, NXB Văn hóa - Thông tin, 2000, tr. 35). Trong bối cảnh xã hội đang đua chen có một chỗ đứng trong ngạch quan trường để thoát khỏi nghèo hèn, thì một người đỗ đạt cao trong làng khoa bảng lại khước từ làm quan đã khiến nhiều người càng ngưỡng mộ Huỳnh Thúc Kháng. Song điều này cũng làm cho Khâm sứ Pháp tại Trung kỳ và Chính phủ Nam triều khó chịu, ít có thiện cảm với ông.
Lựa chọn này không đơn thuần là sự bất hợp tác mang tính tiêu cực, mà là một sự phản tỉnh sâu sắc. Cụ nhận ra rằng, trong bối cảnh đất nước mất độc lập, làm quan thực chất chỉ là làm công cụ cho bộ máy đô hộ. Cụ cùng những người bạn đồng chí như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng Phong trào Duy tân, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Quyết định không màng xiêm áo quan trường để đi khắp nơi vận động mở trường học chữ Quốc ngữ, lập hội thương buôn, cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn là minh chứng cho bản lĩnh: Thà làm một kẻ sĩ nghèo dấn thân vì dân vì nước, còn hơn làm một quan chức bù nhìn cho thực dân đế quốc.
Thép đã luyện qua 13 năm địa ngục trần gian Côn Đảo
Khi phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bùng nổ năm 1908, chính quyền thuộc địa Pháp coi Huỳnh Thúc Kháng là một trong những “đối tượng” nguy hiểm nhất. Cụ bị bắt và bị kết án đày ra Côn Đảo - nơi được xem là “địa ngục trần gian” nhằm đè bẹp ý chí phản kháng. Có thể nói, 13 năm tù giam (1908-1921) là khoảng thời gian thử thách khắc nghiệt nhất đối với sinh mệnh và bản lĩnh của chí sĩ đất Quảng.
Trong môi trường khắc nghiệt ấy, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mong manh, Huỳnh Thúc Kháng không hề rơi vào bi quan hay gục ngã. Cụ biến nhà tù thành trường học, tự học tiếng Pháp, viết lịch sử, sáng tác và nghiên cứu triết học. Sự kiên trung của cụ khiến kẻ thù phải nể sợ, đồng chí kính phục. Năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng được trả tự do, trước khi bước chân xuống tàu về đất liền, Huỳnh Thúc Kháng bùi ngùi, cầm tay các bạn tù ở lại mà đọc bài thơ lưu biệt với hai câu kết thể hiện khí tiết can trường và tinh thần hết mình cho đất nước: “Rút cục máu lòng tìm chỗ dốc/ Sử xanh núi biếc rưới cùng nơi”.
Năm 1923, trong thời gian ở quê nhà Quảng Nam, nhằm tìm cách quản lý và lợi dụng Huỳnh Thúc Kháng, Khải Định đã khôi phục hàm Tiến sĩ Hàn lâm viện Biên tu; Khâm sứ Trung kỳ cho người mời Huỳnh Thúc Kháng ra Kinh đô Huế tham gia việc biên soạn bộ Hán - Việt tự điển, nhưng đều bị Huỳnh Thúc Kháng từ chối. Trả lời Khâm sứ, Huỳnh Thúc Kháng viết: “Tôi chỉ có một cái tội là đậu Tiến sĩ mà không đi làm quan cho nên mới bị tù. Trước đã thế huống chi bây giờ, xin ngài miễn nói đến việc ấy”. Và Huỳnh Thúc Kháng không chọn giải pháp ở ẩn an hưởng tuổi già hay ra làm quan, mà bắt tay vào giai đoạn đấu tranh mới với một vũ khí sắc bén hơn, đó là báo chí và nghị trường.

Cô giáo Huỳnh Thị Tố Hoài, chắt cụ Huỳnh Thúc Kháng, kể chuyện về cụ bên di ảnh trong sân Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: NGUYỄN ĐÔNG
Trọng trách tuổi thất thập
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn chiến lược và sự trân trọng sâu sắc dành cho các nhân sĩ trí thức yêu nước, đã trân trọng mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ và giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Khi ấy, cụ Huỳnh đã 70 tuổi, là một sĩ phu hấp thụ nền học vấn Nho học, chưa từng gia nhập Đảng Cộng sản, nhưng vượt lên trên những khác biệt về lý luận hay xuất thân chính trị, cụ đã nhận lời. Cụ nhận lời không phải vì tham vọng quyền lực, mà vì tiếng gọi của non sông, nhận thấy ở Hồ Chí Minh và chính phủ cách mạng một lòng vì nước, vì dân. Tại sao một sĩ phu Nho học cũ lại tìm thấy sự đồng điệu trọn vẹn với một nhà lãnh đạo cách mạng như Hồ Chí Minh? Đó chính là vì cả hai cùng gặp nhau ở khí tiết vì Dân - vì Nước.
Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao trọng trách quyền Chủ tịch nước. Trước khi đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao cụ lời dặn lịch sử: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong cụ “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” (Những năm tháng không thể nào quên, NXB Quân đội nhân dân, 2001, tr.248).
Trong những tháng ngày cam go ấy, phía Bắc có quân Tưởng Giới Thạch, cùng Việt Quốc, Việt Cách âm mưu lật đổ chính quyền; phía Nam quân Pháp nổ súng xâm lược. Với bản lĩnh gân guốc, sự tỉnh táo và uy tín của mình, cụ Huỳnh đã chèo lái con thuyền đất nước vượt qua sóng gió. Cụ thẳng tay trấn trị các thế lực phản động, ký các sắc lệnh quan trọng giữ vững an ninh quốc gia, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân. Cụ chính là cái neo tinh thần vững chắc, chứng minh rằng khi người ta đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, mọi sóng gió đều có thể vượt qua.
Tháng 4/1947, trên đường đi kinh lý tại Quảng Ngãi, cụ Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và trút hơi thở cuối cùng. Trước khi mất, cụ vẫn dành những dòng tâm tưởng cuối cùng: “Gởi Chủ tịch Hồ Chí Minh! Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp cụ lần cuối cùng. Chúc cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc. Chào vĩnh quyết”.
Trong thư gửi toàn quốc nhân sự kiện cụ Huỳnh qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những dòng xúc động: “Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”.
Khí tiết của Huỳnh Thúc Kháng không phải là thứ khí tiết hẹp hòi của kẻ sĩ ẩn dật, cũng không phải sự trung quân mù quáng. Đó là bản lĩnh của tư tưởng độc lập, sự cương trực trước bất công và tinh thần phụng sự không điều kiện.
Dù ở bất kỳ vị trí nào, một tiến sĩ từ chốn quan trường, một tù nhân Côn Đảo, một nhà báo kiên trung hay một quyền Chủ tịch nước, Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ nguyên khí tiết một lòng chí công vô tư, coi khinh mọi vinh hoa cá nhân để hướng về cái chung của dân tộc. Hành trình cuộc đời cụ là minh chứng sống động cho thấy sức mạnh lớn nhất của một trí thức không nằm ở danh vị hay học hàm, học vị, mà nằm ở bản lĩnh giữ trọn khí tiết trước mọi biến động của thời cuộc. Đáng trân trọng thay!
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mot-doi-giu-tron-khi-tiet-3353285.html
