Về vùng đất kể chuyện bằng di sản
Từ những trang sử được lưu dấu trong di tích đến câu hát, điệu múa được trao truyền qua bao thế hệ, di sản xứ Thanh đang kể những câu chuyện về vùng đất, con người và ký ức quê hương. Mỗi cách kể mang một sắc thái riêng, nhưng cùng gặp nhau ở hành trình gìn giữ và tiếp nối những giá trị văn hóa trong đời sống hôm nay.

Biểu diễn trò diễn Xuân Phả tại Lễ hội Lam Kinh.
Mùa thu về trên đất Lam Sơn cũng là lúc những câu chuyện ấy hội tụ trong không gian Lễ hội Lam Kinh. Giữa màu xanh của cây lá, vẻ cổ kính, bề thế của Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh, lịch sử không chỉ được nhắc lại bằng những trang sách. Hào khí Lam Sơn được gợi lên qua nghi lễ, âm nhạc, diễn xướng và những sinh hoạt văn hóa. Mỗi thanh âm, mỗi điệu diễn như mở thêm một lớp ký ức, để câu chuyện về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê đến gần hơn với hôm nay.
Trong những sắc màu ấy, trò diễn Xuân Phả mang theo câu chuyện về sức sống của một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian từng đứng trước nguy cơ mai một. Câu chuyện ấy được kể bằng từng động tác múa, chiếc mặt nạ, bộ trang phục, tiếng nhạc và lối trình diễn đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Sự hòa quyện giữa dấu ấn văn hóa cung đình và diễn xướng dân gian làm nên nét riêng của Xuân Phả, đồng thời lưu giữ trong đó ký ức về đời sống văn hóa của một cộng đồng đã bền bỉ trao truyền di sản qua thời gian.
Nghệ nhân Nguyễn Xuân Lương, người thực hành trò diễn Xuân Phả, chia sẻ: “Mỗi lần biểu diễn, chúng tôi như được sống lại câu chuyện của cha ông qua từng điệu múa, tiếng nhạc. Năm nào được góp mặt tại Lễ hội Lam Kinh, chúng tôi đều mong người trẻ xem, hiểu và yêu hơn di sản quê mình, để những gì cha ông trao lại tiếp tục được gìn giữ”.
Cùng với Xuân Phả, trên đất Lam Kinh còn có những câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ văn hóa của nhiều cộng đồng. Người Mường kể câu chuyện của mình qua tiếng cồng chiêng, múa pồn pôông; người Thái qua khặp, khèn, múa xòe; đồng bào Dao, Mông, Thổ gửi vào trang phục, tiếng hát, phong tục và nghi lễ những dấu ấn được vun bồi qua nhiều thế hệ. Mỗi cộng đồng là một cách kể riêng nhưng đều gặp nhau ở tình yêu đối với văn hóa quê hương và mong muốn trao lại những giá trị ấy cho thế hệ sau.
Rời không gian lễ hội, những di sản ấy trở về nơi chúng được sinh ra và nuôi dưỡng. Ở Thường Xuân, những giá trị văn hóa của đồng bào Thái như hát khặp, nhảy sạp, ném còn, đẩy gậy và ẩm thực truyền thống, nghề dệt được trao truyền từ mỗi gia đình, khu dân cư. Các đội văn nghệ truyền thống luôn được duy trì hoạt động. Địa phương cũng khuyến khích người dân thường xuyên thực hành, giới thiệu những nét văn hóa của dân tộc, để người trẻ có cơ hội tiếp cận và tham gia.
Chị Cầm Thị Dương, 36 tuổi, xã Thường Xuân, chia sẻ: “Ngày trước, những điệu hát, điệu múa hay nghề dệt chủ yếu được các bà, các mẹ truyền lại trong gia đình. Bây giờ, chúng tôi cùng thực hành, ghi lại và chia sẻ để lan tỏa những nét đẹp ấy, đồng thời mong muốn lớp trẻ cùng tham gia, để các cháu vừa hiểu văn hóa của dân tộc mình, vừa biết cách gìn giữ và giới thiệu đến nhiều người hơn”.
Từ miền Tây xuống đồng bằng và miền biển, mỗi vùng đất lại có một cách kể riêng. Ngũ trò Viên Khê, múa chèo chải, hát chèo, lễ hội Cầu Ngư... lưu giữ những ký ức, niềm tin và ước vọng của cộng đồng. Những làn điệu dân ca, trò diễn, lễ hội, tín ngưỡng, phong tục không chỉ phản ánh một đời sống đã qua, mà còn cho thấy cách mỗi cộng đồng thể hiện tình yêu với quê hương.
Nếu di sản phi vật thể kể chuyện bằng ký ức và sự thực hành, thì những di tích lại kể bằng không gian và dấu tích. Thành Nhà Hồ kể câu chuyện về một công trình đá độc đáo cuối thế kỷ XIV. Lam Kinh kể câu chuyện về cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê. Khu di tích Bà Triệu kể câu chuyện về người nữ anh hùng Triệu Thị Trinh được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trong những ngôi đình, đền, chùa ở mỗi làng quê, lịch sử lại được kể theo cách gần gũi hơn, gắn với ký ức, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Với hơn 1.500 di tích hiện diện, mỗi di tích là một câu chuyện riêng, góp phần làm nên ký ức và chiều sâu văn hóa xứ Thanh.
Trong đời sống hôm nay, cách kể chuyện bằng di sản cũng đang mở rộng. Từ lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, câu lạc bộ đến hoạt động trải nghiệm và không gian mạng, những giá trị của cha ông đang được tiếp cận bằng nhiều hình thức gần gũi hơn với công chúng, nhất là thế hệ trẻ. Qua đó, di sản không chỉ được gìn giữ trong những không gian quen thuộc mà còn có thêm cơ hội hiện diện, được biết đến và tiếp tục sống trong đời sống đương đại. Mỗi thế hệ có thể chọn một cách kể khác nhau, nhưng khi còn người thực hành, còn người kể và còn người muốn lắng nghe, di sản vẫn còn sức sống. Xứ Thanh vì thế không chỉ là vùng đất giàu di sản, mà còn là vùng đất biết kể câu chuyện của mình bằng chính những di sản đang sống trong cộng đồng.
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/ve-vung-dat-ke-chuyen-bang-di-san-304959.htm
