Văn hóa không chỉ được gìn giữ như giá trị quá khứ mà trở thành nguồn lực nội sinh, giúp nâng chất lượng trải nghiệm du lịch, tạo giá trị kinh tế, tăng sức mạnh mềm cho Đà Nẵng trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước, việc lượng hóa đóng góp của văn hóa trở thành yêu cầu cấp thiết.
HNN - Nghị quyết 80-NQ/TW đã đưa ra hai phạm trù hoàn toàn mới: Văn hóa là “trụ cột” và là “hệ điều tiết” cho sự phát triển nhanh, bền vững. Đây là bước phát triển đột phá về tư duy lý luận. Văn hóa được định vị là một trong bốn trụ cột phát triển bên cạnh kinh tế, chính trị và xã hội.
Làm thế nào để chuyển hóa kho tàng di sản đồ sộ thành sức mạnh nội sinh, kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới? Đây là vấn đề đặt ra sau 555 năm định danh vùng đất xứ Quảng, đặc biệt ở bối cảnh không gian rộng mở như hiện tại. Trong chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa, gồm 5 mắt xích liên hoàn: Nghiên cứu - bảo tồn - diễn giải - sáng tạo - lan tỏa, bảo tàng đóng vai trò hạt nhân điều phối.
(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.
TP. Hồ Chí Minh muốn biến sức hút concert, điện ảnh và du lịch văn hóa thành giá trị kinh tế, hướng tới đóng góp hơn 7,2% GRDP vào năm 2030.
Để đời sống văn hóa phát triển bền vững, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, bên cạnh không gian sáng tạo, Đà Nẵng đang nỗ lực xây dựng đội ngũ nhân lực có chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với thị trường. Từ mở rộng hợp tác với nghệ sĩ ngoài thành phố, nuôi dưỡng các cộng đồng nghệ thuật đến đổi mới đào tạo nhân lực tại chỗ, góp phần bồi đắp nguồn lực sáng tạo, từng bước chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế, tạo nền tảng phát triển công nghiệp văn hóa mang bản sắc riêng của Đà Nẵng.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mời cộng đồng doanh nghiệp chung tay giải những bài toán cụ thể: Biến di sản thành trải nghiệm số hấp dẫn; phát triển chương trình biểu diễn gắn với du lịch...
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Với quy mô giá trị sản xuất bình quân ngày càng tăng, công nghiệp văn hóa đang khẳng định vị thế một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc chỉ dừng lại ở các dự án đơn lẻ là chưa đủ.
Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, nhưng để biến những giá trị ấy thành sản phẩm có sức cạnh tranh, cần kết nối di sản, công nghệ, nguồn lực doanh nghiệp và thị trường.
HNN.VN - Lễ công bố Mạng lưới Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam và danh mục 17 bài toán trọng tâm năm 2026 diễn ra đúng dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10). Thời điểm ấy làm rõ thông điệp: doanh nghiệp, doanh nhân phải trở thành chủ thể chuyển hóa bản sắc và sức sáng tạo Việt Nam thành sản phẩm, việc làm và động lực tăng trưởng. Trong phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh vai trò chủ động của cơ quan quản lý trong nêu bài toán, kết nối đối tác và thúc đẩy thực hiện.
Việc kết nối Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11 với Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 để hình thành một chuỗi hoạt động “tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc” không chỉ tạo thêm một không gian sinh hoạt văn hóa trong đời sống xã hội. Sâu xa hơn, đây là cách đặt văn hóa trở lại đúng vị trí của nó: Một nền tảng tinh thần, một nguồn lực nội sinh và một sức mạnh gắn kết cộng đồng.
Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được kỳ vọng cung cấp nguồn tài nguyên chung cho các ngành sáng tạo, từ điện ảnh, trò chơi điện tử đến du lịch và thiết kế.
Chiều 12/10, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ ra mắt Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam và 16 sáng kiến trọng tâm từ hạ tầng sáng tạo đến thương hiệu quốc tế.
Bản sắc văn hóa là nguồn sức mạnh nội sinh được bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử dân tộc. Trong kỷ nguyên mới, phát huy nguồn lực ấy gắn với sáng tạo, công nghiệp văn hóa và thị trường đang mở ra những cơ hội phát triển, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời đưa các giá trị Việt Nam vươn xa.
Công nghiệp văn hóa được định hướng phát triển gắn với kinh tế sáng tạo, với mục tiêu đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và khoảng 9% GDP vào năm 2045.
Từ lợi thế là vùng đất có hệ thống di sản phong phú, bản sắc văn hóa đặc trưng và thương hiệu văn hóa đã được khẳng định, Huế đang tìm hướng đưa các giá trị di sản bước sâu hơn vào đời sống kinh tế đương đại. Bài toán đặt ra không chỉ là bảo tồn những gì cha ông để lại, mà còn tạo ra sản phẩm, thị trường và sinh kế từ di sản, để văn hóa vừa được gìn giữ, vừa trở thành nguồn lực cho phát triển.
Phát biểu tại Hội thảo “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” sáng 10/10, Phó Chủ tịch UBND thành phố Huế Trần Hữu Thùy Giang cho biết, TP. Huế hướng đến xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, xác định rõ không gian đối tượng ưu tiên bảo tồn và không gian dành cho phát triển.
Chuyển đổi số không thay thế giá trị cốt lõi của văn hóa, mà mở ra phương thức mới để bảo tồn, phát huy di sản, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng và thúc đẩy sáng tạo. Khi công nghệ gắn với nhu cầu thực tiễn, tài nguyên văn hóa sẽ có thêm cơ hội trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 9/10/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 156-TB/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng (Kế hoạch).
Sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/2/2022 của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa, nhận thức về vai trò của văn hóa đã có chuyển biến rõ nét. Hà Nội là địa phương đầu tiên trong cả nước ban hành Nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực này, xác định văn hóa không chỉ là đối tượng cần bảo tồn, gìn giữ mà còn là nguồn lực nội sinh, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, sản phẩm và sức cạnh tranh cho Thủ đô.
72 năm sau Ngày Giải phóng Thủ đô, Hà Nội đang bước vào một chặng đường phát triển mới với tầm nhìn dài hạn, khát vọng vươn lên và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sống của người dân. Trong tư duy phát triển mới ấy, văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực quan trọng để Thủ đô bứt phá.
Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ số, vấn đề đặt ra với văn hóa không chỉ là bảo tồn. Sự dịch chuyển sang phát triển công nghiệp văn hóa đòi hỏi xung lực mới để vận hành hệ thống, mà trọng tâm nằm ở năng lượng sáng tạo của con người.
Công nghiệp văn hóa đang ngày càng khẳng định vai trò trong nền kinh tế sáng tạo, mở ra những cơ hội mới để quảng bá hình ảnh, bản sắc và giá trị Việt Nam. Để nâng tầm thương hiệu Việt, cần phát huy đồng thời sức mạnh của văn hóa, công nghệ, năng lực sáng tạo và bảo vệ tài sản trí tuệ.
Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, nhưng trong kỷ nguyên số, bài toán không chỉ dừng ở bảo tồn nguồn lực sẵn có, mà còn là sáng tạo trên nền tảng di sản, xác lập và quản trị quyền sở hữu trí tuệ để tạo ra những giá trị kinh tế bền vững.
Ngày 8/10, tại Hà Nội, Diễn đàn “Công nghệ số và AI trong kiến tạo nền kinh tế sáng tạo - Từ tài nguyên văn hóa đến năng lực cạnh tranh quốc gia” được tổ chức. Diễn đàn tập trung bàn về việc khai thác tài nguyên văn hóa để hình thành IP, sản phẩm, thương hiệu và mô hình kinh doanh mới.
Nghệ thuật biểu diễn đang mở rộng không gian phát triển khi kết nối với điện ảnh, nội dung số, du lịch văn hóa, công nghệ và các ngành dịch vụ. Từ một chương trình nghệ thuật, giá trị sáng tạo có thể tiếp tục được chuyển hóa thành doanh thu, việc làm, thương hiệu, sức hút điểm đến, qua đó mở thêm dư địa để văn hóa tham gia trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.
Ngoại giao văn hóa cần được nhìn nhận rộng hơn hoạt động giao lưu, quảng bá hình ảnh hay tổ chức sự kiện; đó có thể là một cơ chế kết nối nguồn lực trong nước với tri thức, thị trường, công nghệ, vốn và mạng lưới quốc tế.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất đánh giá “mức độ bản sắc văn hóa Việt Nam” của sản phẩm công nghiệp văn hóa làm căn cứ hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi. Từ cách làm của một số nước, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm quý giá trong việc đánh giá, “chấm điểm” cho sản phẩm văn hóa.
Tài nguyên văn hóa phong phú là một lợi thế, nhưng lợi thế ấy không tự chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị phát triển. Từ một di sản, câu chuyện lịch sử hay loại hình nghệ thuật đến sản phẩm có khả năng tiếp cận công chúng là một chuỗi sáng tạo, sản xuất, truyền thông, phân phối.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang đặt ra một yêu cầu rất mới: Nhà nước không chỉ quản lý, mà phải kiến tạo hệ sinh thái để nguồn lực sáng tạo, doanh nghiệp, tài sản trí tuệ và thị trường cùng vận hành.
Sở hữu kho tàng di sản phong phú, Hà Nội không chọn biến các giá trị quá khứ thành "hiện vật trưng bày" mà đang tích cực đánh thức chúng trong dòng chảy công nghiệp văn hóa. Di sản giờ đây trở thành nguồn lực cốt lõi, bệ phóng cho những sản phẩm sáng tạo mang đậm bản sắc của Thủ đô.
Theo TS. Phan Cao Nhật Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, để ngoại giao di sản tạo ra những kết nối, đối thoại và hợp tác thực chất, Việt Nam cần chuyển từ tư duy tổ chức các hoạt động quảng bá đơn lẻ sang xây dựng những cơ chế hợp tác dài hạn.
Việt Nam có một "kho" tài nguyên văn hóa đặc biệt phong phú, từ di sản, lịch sử, ẩm thực, làng nghề đến những câu chuyện, nhân vật và địa danh. Nhưng tài nguyên chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được nhận diện, sáng tạo, bảo hộ và đưa vào thị trường.
Ngày 2/10/2026, tại Hà Nội, gần 100 nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý đã tham dự Hội thảo khoa học quốc gia Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức.
Ngày 2/10, UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội nghị xúc tiến phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nghệ sĩ, hiệp hội, doanh nghiệp, tập đoàn và đối tác trong nước, quốc tế.
Lễ hội dân gian là nguồn tài nguyên kiến tạo sản phẩm công nghiệp văn hóa. Sản phẩm ấy không đồng nghĩa với gia tăng yếu tố thương mại, mà là quá trình tổ chức, sáng tạo, truyền thông các giá trị văn hóa bằng phương thức hiện đại, chuyên nghiệp.
Từ một lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác tương xứng, công nghiệp văn hóa (CNVH) đang đứng trước yêu cầu trở thành một ngành kinh tế có sức lan tỏa. Dự án Luật Phát triển CNVH trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai sắp tới hướng tới mục tiêu xác lập địa vị pháp lý chính thức cho lĩnh vực này, khơi thông nguồn lực sáng tạo, kết nối chuỗi giá trị và tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.
Như kỳ trước đã đề cập, chủ trương xây dựng Ngày Văn hoá Việt Nam 24/11 trở thành thương hiệu văn hoá quốc gia gợi mở về một cách tiếp cận mới đối với phát triển văn hóa: lấy người dân làm trung tâm, đưa văn hóa ra khỏi không gian hội trường để hiện diện sinh động trong cộng đồng…
Có thể nói chưa bao giờ câu chuyện công nghiệp văn hóa được đặt cạnh tăng trưởng, việc làm, thị trường và sức cạnh tranh như hiện nay. Trong thống kê gần nhất, Việt Nam hiện có hơn 500 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục quốc gia và hàng nghìn di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Hơn 5.400 làng nghề, trong đó hơn 1.800 làng nghề truyền thống, tạo ra hàng triệu sản phẩm thủ công mỹ nghệ, xuất khẩu tới rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ; khoảng 17.670 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, tạo việc làm cho trên 97.000 lao động; tỷ trọng đóng góp vào GRDP tăng từ 3,54% năm 2020 lên 5,7% cuối năm 2025, với tốc độ tăng trưởng bình quân 14% mỗi năm.
Thời gian qua, văn hóa được đặt trong một cách tiếp cận mới, đó là phải trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tạo tăng trưởng và kiến tạo những giá trị mới. Với Thủ đô Hà Nội, nơi hội tụ nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt phong phú, yêu cầu này đang từng bước được cụ thể hóa bằng các cơ chế, sản phẩm, hệ sinh thái sáng tạo và những công cụ đo lường cụ thể.
Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Với 96 di tích, 31 lễ hội truyền thống, nghệ thuật rối nước Đào Thục, ca trù Lỗ Khê cùng những làng nghề giàu bản sắc, xã Thư Lâm (Hà Nội) đang sở hữu một “kho báu” văn hóa đặc biệt. Vấn đề đặt ra không chỉ là gìn giữ, mà làm thế nào để di sản của địa phương bước ra khỏi không gian truyền thống, trở thành nguồn lực cho sáng tạo và công nghiệp văn hóa.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm xác định "Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo" là giá trị cốt lõi và đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10% GRDP vào năm 2035. Để mục tiêu ấy trở thành hiện thực, di sản không thể chỉ được bảo vệ bằng hàng rào hay các quyết định xếp hạng, mà phải trở thành nguồn lực tạo việc làm, thu nhập và động lực để người dân tiếp tục ở lại với nghề, với làng và với chính những giá trị văn hóa mà họ là chủ thể gìn giữ.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, văn hóa không thể chỉ được nhìn như một lĩnh vực thụ hưởng thành quả của phát triển, mà những đóng góp của ngành văn hóa đã góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
HNN.VN - Đi giữa những con ngõ của Phố cổ Kashgar ở Tân Cương, tôi nghĩ nhiều đến Huế. Mỗi nơi có một lịch sử, một cấu trúc văn hóa và một cách phát triển khác nhau, nhưng đều đặt ra cùng một câu hỏi: làm thế nào để di sản không chỉ được giữ lại như ký ức của quá khứ mà còn tiếp tục sống trong đời sống đương đại, tạo sinh kế cho người dân và trở thành nguồn lực cho phát triển.
Từ định hướng giải pháp của Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra yêu cầu phải phát huy chiều sâu văn hóa, đưa hệ sinh thái di sản biển trở thành nguồn lực phát triển du lịch biển Việt Nam.
Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mục tiêu của phát triển mà ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực nội sinh trực tiếp tạo ra sản phẩm, việc làm, thu nhập, giá trị gia tăng, thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp 7% GDP. Muốn đạt được mục tiêu ấy, chúng ta cần một lực lượng lao động sáng tạo đủ năng lực biến giá trị văn hóa thành sản phẩm, tài sản trí tuệ và giá trị kinh tế. Nhân lực, vì thế, phải được nhìn như “hạ tầng mềm” của công nghiệp văn hóa.
Với kho tàng di sản phong phú, Hà Nội có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, để văn hóa thực sự trở thành động lực tăng trưởng, Thủ đô cần đổi mới tư duy sản phẩm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khơi thông nguồn vốn và hoàn thiện hệ sinh thái sáng tạo.
Văn hóa chỉ tạo ra tăng trưởng lớn khi được tổ chức thành một hệ sinh thái gồm sáng tạo, công nghệ, doanh nghiệp, bản quyền, tài chính, thị trường và quảng bá quốc tế.
Khát vọng tăng trưởng hai con số đang đặt Việt Nam trước yêu cầu phải tìm kiếm những động lực phát triển mới có chất lượng cao hơn, bền vững hơn và dựa nhiều hơn vào tri thức, con người, sáng tạo. Trong hành trình ấy, văn hóa không chỉ tạo nên nền tảng tinh thần, hệ giá trị, niềm tin, lòng yêu nước và sức mạnh đoàn kết của xã hội, mà ngày càng có khả năng chuyển hóa trực tiếp thành sản phẩm, việc làm, doanh thu, tài sản trí tuệ và sức cạnh tranh quốc gia. Vấn đề của giai đoạn mới là làm sao để sức mạnh văn hóa thực sự đi vào sức sản xuất của nền kinh tế.
AI đang bước vào điện ảnh, âm nhạc, bảo tàng, du lịch... không chỉ như một công cụ kỹ thuật mà còn như một hạ tầng mới của sáng tạo. Nhưng công nghệ càng mạnh, câu hỏi về dữ liệu văn hóa, bản quyền và vai trò của con người càng trở nên cấp thiết.
Văn hóa vừa tạo ra hệ giá trị, niềm tin xã hội, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước và khát vọng vươn lên; vừa trực tiếp tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, xuất khẩu và tài sản trí tuệ thông qua công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo. Muốn đi nhanh mà vẫn đi xa, tăng trưởng hai con số càng cần một sức bật mạnh mẽ từ văn hóa.
HNN - Với hệ thống di sản phong phú, Huế có nhiều lợi thế để chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ và sinh kế. Quá trình này đã bắt đầu, nhưng để đưa di sản đến gần đời sống và thị trường vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.
Công nghiệp văn hóa bao gồm nhiều ngành, mỗi ngành đều có giá trị và vai trò riêng. Nhưng nguồn lực của một quốc gia luôn có giới hạn. Nếu mọi lĩnh vực đều được coi là ưu tiên như nhau, rất có thể cuối cùng không lĩnh vực nào nhận đủ nguồn lực để tạo ra bước đột phá. Vì vậy, bên cạnh một hành lang chính sách chung, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần mở đường cho chiến lược lựa chọn những ngành, sản phẩm và tài sản trí tuệ có khả năng trở thành “mũi nhọn” của Việt Nam trong từng thời kỳ.
Với hệ sinh thái di sản phong phú, Đà Nẵng đang đứng trước cơ hội chuyển hóa nguồn tài nguyên đặc hữu thành động lực của công nghiệp văn hóa. Điều quan trọng không chỉ là khai thác những giá trị sẵn có, mà phải “làm mới” di sản bằng tinh thần sáng tạo: đưa thiết kế, nghệ thuật, công nghệ và tư duy kinh tế hiện đại vào chuỗi giá trị, để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, tạo ra sản phẩm mới, thị trường mới và sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được lấy ý kiến rộng rãi trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đưa các ngành công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới, đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030.
(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.
Tour trải nghiệm đêm "Tinh hoa Đạo học" tại Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một sản phẩm du lịch sáng tạo, mà còn là minh chứng cho tư duy biến di sản thành nguồn lực nội sinh, tạo động lực phát triển kinh tế và văn hóa.
HNN - Với Huế - vùng đất có bề dày, lợi thế về văn hóa di sản, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (PTCNVH) được kỳ vọng sẽ tạo công cụ pháp lý rõ ràng, khả thi để các địa phương phát huy lợi thế riêng; đồng thời, bảo đảm cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, giữa quyền sáng tạo với trách nhiệm bảo vệ di sản, bản quyền và lợi ích cộng đồng.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra yêu cầu đột phá ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có trụ cột bản sắc và giá trị văn hóa. Để khơi dậy các giá trị di sản thành động lực tăng trưởng, phóng viên Báo Nhân Dân đã phỏng vấn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.