Nhu cầu vốn gần 1.500 tỷ USD giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, phát triển thị trường vốn và mở rộng vai trò kết nối của ngân hàng nhằm đa dạng hóa nguồn vốn, bảo đảm ổn định tài chính.
Chất lượng tín dụng và khả năng định giá rủi ro là nền tảng để thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển thực chất, nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn dài hạn.
Nhu cầu vốn cho tăng trưởng, chuyển đổi mô hình kinh tế và phát triển hạ tầng ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế. Sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng có thể tạo áp lực lên hệ thống tài chính, nhất là khi nhu cầu vốn đầu tư dài hạn tăng nhanh. Vì vậy, phát triển thị trường vốn không chỉ nhằm mở rộng quy mô huy động, mà còn hướng tới xây dựng cấu trúc dẫn vốn cân bằng, minh bạch và có khả năng phân bổ nguồn lực đến những lĩnh vực tạo ra giá trị cao hơn. Đây là điều kiện quan trọng để nâng sức chống chịu của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Khả năng phân biệt chất lượng tín dụng giữa các tổ chức phát hành là nền tảng để định giá rủi ro phù hợp, nâng hiệu quả phân bổ vốn và củng cố niềm tin trên thị trường trái phiếu.
Dòng vốn tín dụng tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhưng khả năng tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn vẫn là thách thức của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tới, việc tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, đầu tư, tín dụng và thị trường đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Cùng với huy động thêm vốn, vấn đề đặt ra là sử dụng hiệu quả nguồn lực, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tăng trưởng kinh tế trên 10% đòi hỏi nguồn vốn lớn, song việc huy động và sử dụng vốn cần gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội tại Quốc hội sáng 31/10, các đại biểu đề nghị làm rõ phương án vốn cho năm 2027, phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đồng thời hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án.
Việt Nam dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Nhưng khi mô hình tăng trưởng đặt ra yêu cầu phải dịch chuyển từ dựa nhiều vào vốn, lao động sang năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bài toán ở đây không còn chỉ là huy động thêm bao nhiêu tiền, mà là làm sao biến nguồn lực thành vốn dài hạn, thành dự án có thể triển khai và thành năng lực sản xuất mới của nền kinh tế
Trong bối cảnh dư nợ tín dụng tương đương khoảng 155% GDP, áp lực tìm kiếm nguồn vốn trung và dài hạn đang đặt ra yêu cầu đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế. Đại biểu Quốc hội đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm khai thác nguồn lực trong nước, phát triển thị trường vốn và giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng…
Tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ huy động vốn, trong khi lãi suất cho vay mới vẫn tăng so với cuối năm 2025. Tại diễn đàn ngày 30/10, các diễn giả đề cập những cơ chế huy động vốn trung và dài hạn có thể bổ sung cho tín dụng ngân hàng.
Công nghệ 4.0 đang mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, kết nối thị trường và tổ chức hoạt động kinh doanh. Cùng với cơ hội tăng trưởng, doanh nghiệp đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng quyết định tài chính, từ huy động nguồn lực đến phân bổ, giám sát và thu hồi vốn. Đây là những nội dung được trao đổi tại Hội thảo “Quản trị tài chính doanh nghiệp tư nhân trong kỷ nguyên số” do Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi tổ chức.
Trong giai đoạn tới, bài toán vốn phục vụ tăng trưởng hai con số không đơn thuần nằm ở khả năng huy động thêm nguồn lực, mà còn ở việc tổ chức lại cấu trúc vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ.
Huy động vốn gần 1.500 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030 là nhu cầu được tính toán theo kịch bản Việt Nam tăng trưởng GDP 10%/năm. Trong khi tín dụng ngân hàng đang chiếm khoảng một nửa nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, nhiều nguồn lực tài chính vẫn chưa được khai thác tương xứng. Phát triển thị trường vốn, thu hút dòng vốn quốc tế và tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế trở thành yêu cầu cấp thiết.
TP.HCM cần khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn đầu tư mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030, đặt ra yêu cầu khơi thông nguồn lực tư nhân và vốn quốc tế.
Với TP.HCM, trung bình mỗi năm thành phố cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội để phục vụ mục tiêu tăng trưởng.
Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Phát triển thị trường vốn trở thành yêu cầu quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng lớn, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đây cũng là định hướng quan trọng trong xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh…
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, các chuyên gia kỳ vọng Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần phát triển sản phẩm phù hợp, minh bạch thủ tục, hoàn thiện cơ chế vận hành và củng cố niềm tin nhà đầu tư.
Trung bình mỗi năm giai đoạn 2026-2030, TP.HCM cần huy động khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương 22% tổng nhu cầu cả nước.
TP. Hồ Chí Minh định hướng phát triển quỹ đầu tư, mở rộng sản phẩm tài chính nhằm thu hút dòng vốn quốc tế vào nền kinh tế thực. Trọng tâm là kết nối nguồn lực với những dự án hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế mới.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần huy động khoảng 280 - 300 tỷ USD mỗi năm từ nay đến năm 2030, trong khi tín dụng ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn của nền kinh tế. Theo TS. Cấn Văn Lực, phát triển thị trường vốn và khai thác thêm các nguồn lực trong nước, quốc tế là yêu cầu quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu rất lớn về nguồn lực đầu tư. Trong khi đó, khả năng đáp ứng vốn của ngân sách nhà nước có giới hạn, còn nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Điều này đòi hỏi phải có giải pháp phát triển đồng bộ các kênh huy động vốn, nhất là thị trường vốn trung và dài hạn.
Việt Nam cần huy động khoảng 280–300 tỷ USD mỗi năm để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030. Trong bối cảnh nguồn vốn vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư dài hạn được xem là hướng đi quan trọng để đa dạng hóa dòng vốn, giảm áp lực tín dụng và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
15 dự án trọng điểm tại Đông Nam Bộ có nhu cầu vay vốn khoảng 757.000 tỷ đồng, đặt ra bài toán lớn về huy động và phân bổ nguồn lực tài chính. Bên cạnh khả năng cung ứng vốn của ngân hàng, việc tháo gỡ vướng mắc pháp lý, hoàn thiện hồ sơ đầu tư và nâng cao tính khả thi của dự án được xác định là những điều kiện quan trọng để dòng vốn đi vào nền kinh tế.
Với mặt bằng lãi suất cho vay trên 10%/năm, chi phí vốn có thể bào mòn đáng kể lợi nhuận, nhất là đối với những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có biên lợi nhuận thấp và thời gian thu hồi vốn kéo dài.
Thị trường trái phiếu còn nhiều dư địa phát triển, song để khai thác hiệu quả nguồn vốn dài hạn, cần tạo đột phá về cơ chế, sản phẩm và cơ sở nhà đầu tư.
Theo TS. Cấn Văn Lực, cơ quan quản lý cần chuyển từ cách tiếp cận cào bằng, dựa chủ yếu vào tên gọi của sản phẩm, mô hình hay chủ thể sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro thực tế.
Việt Nam thường đặt câu hỏi tìm vốn ở đâu để xây khu công nghiệp xanh. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp. Việc cần làm là thiết kế một hệ thống tài chính để khu công nghiệp xanh tự huy động vốn, tạo dòng tiền và duy trì lợi ích môi trường lâu dài. Muốn vậy, tiền hỗ trợ phải được phân bổ dựa trên kết quả đo lường được, chứ không chỉ dựa vào tên gọi của dự án.
Dòng vốn tín dụng vào bất động sản tiếp tục tăng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp có dấu hiệu phục hồi, nhưng khả năng tiếp cận vốn vẫn chưa đồng đều. Vướng mắc pháp lý kéo dài, chi phí vốn cao và sự lệch pha giữa nguồn cung với khả năng chi trả đang khiến dòng tiền chưa chuyển hóa tương xứng thành nguồn cung nhà ở và sức mua thực tế.
Nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số có thể lên tới 300 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Trong khi tín dụng ngân hàng vẫn chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của nền kinh tế, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, để đa dạng hóa nguồn lực và bảo đảm tăng trưởng bền vững.
Nhu cầu vốn ngày càng lớn đòi hỏi đa dạng hóa các kênh huy động, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về đa dạng hóa kênh dẫn vốn, tháo gỡ vướng mắc thể chế và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.
Mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026–2030 đòi hỏi Việt Nam huy động nguồn vốn lớn, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn. Để đáp ứng yêu cầu này, cần đa dạng hóa kênh dẫn vốn, tháo gỡ các nguồn lực đang ách tắc.
Khi nhu cầu vốn cho tăng trưởng ngày càng lớn, việc phát triển thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong đa dạng hóa kênh huy động, giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng.
Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến lên tới 38 - 39 triệu tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn, đa dạng hóa kênh huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đại biểu Tô Huy Vũ cho rằng, hạ lãi suất bền vững cần tái cấu trúc kênh dẫn vốn quốc gia, huy động nguồn vốn dài hạn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Hà đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và giảm áp lực cung ứng vốn trung, dài hạn cho hệ thống ngân hàng.
Trong cuộc đua tăng trưởng bứt phá, điều nền kinh tế cần không chỉ là nhiều vốn hơn, mà là một cấu trúc vốn tối ưu hơn và cơ chế phân bổ hiệu quả hơn.
Nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển ngày càng tăng, song nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng. Trong bối cảnh các tổ chức tín dụng phải bảo đảm an toàn vốn và kiểm soát chất lượng tài sản, hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, bảo lãnh tín dụng được kỳ vọng tạo thêm dư địa cung ứng vốn, đồng thời huy động nguồn lực cho những lĩnh vực ưu tiên.
Ngành Ngân hàng tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, tiết giảm chi phí, phấn đấu giảm lãi suất cho vay và đơn giản hóa thủ tục tín dụng trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với đó, việc tháo gỡ các vướng mắc về pháp lý dự án, nâng cao năng lực tài chính và minh bạch dòng tiền của doanh nghiệp sẽ góp phần khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo động lực tăng trưởng cho Đà Nẵng.
Đà Nẵng cần thêm khoảng 35.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong quý IV, trong đó khoảng 15.000 tỷ đồng từ hệ thống tín dụng, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026.
Trong bối cảnh Đà Nẵng đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên năm 2026, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư đang tăng mạnh. Tại hội nghị “Khơi thông dòng vốn - đồng hành cùng Đà Nẵng tăng trưởng”, cộng đồng doanh nghiệp đã trực tiếp nêu những vướng mắc khi tiếp cận vốn, trong khi ngành Ngân hàng cam kết tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực có khả năng tạo động lực cho tăng trưởng.
Dòng vốn tín dụng đang được mở rộng với nhiều chính sách ưu đãi, song Lâm Đồng cần đồng thời nâng năng lực hấp thụ vốn, minh bạch dữ liệu và kết nối thị trường để doanh nghiệp tăng tốc.
Chuyển dịch năng lượng đang mở ra nhu cầu vốn khổng lồ, nhưng bài toán của Việt Nam không đơn thuần là tìm thêm tiền. Điều quan trọng hơn là hình thành được những dự án đủ độ "chín", có cấu trúc tài chính phù hợp và cơ chế phân bổ rủi ro đủ sức thuyết phục các dòng vốn tư nhân, quốc tế tham gia.
Nhu cầu vốn cho hạ tầng ngày càng lớn trong khi thị trường không thiếu nguồn lực. Điểm nghẽn nằm ở chỗ nhiều dự án chưa tạo được dòng tiền đủ rõ, cơ chế phân bổ rủi ro chưa hợp lý và công cụ huy động vốn còn lệch pha với vòng đời tài sản. Muốn kéo được dòng vốn 15–20 năm vào những dự án hàng tỷ USD, bài toán không chỉ là “tìm tiền” mà còn phải thiết kế những dự án đủ khả năng được thị trường định giá và chấp nhận rủi ro.
Hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn đang được triển khai, kéo theo nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao. Trong đó, tín dụng ngân hàng được kỳ vọng là một dòng vốn quan trọng. Tuy nhiên, để vốn ngân hàng đi đúng địa chỉ và phát huy hiệu quả, cần tháo gỡ điểm nghẽn về kỳ hạn, phương án tài chính, pháp lý và cơ chế chia sẻ rủi ro.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030, thành phố Hà Nội đang đứng trước bài toán huy động và phân bổ nguồn lực tài chính kỷ luật, hiệu quả.
Với nhu cầu vốn cho phát triển lên tới hàng triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030, Hà Nội đang đẩy mạnh kết nối ngân hàng, doanh nghiệp và các dự án, hướng tới đưa dòng tiền nhanh chóng đi vào nền kinh tế và tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
8 tháng năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, trong khi dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đều cao hơn mức tăng chung của toàn hệ thống. Với quy mô huy động và cho vay dẫn đầu cả nước, ngành ngân hàng đang tiếp tục đồng hành cùng Hà Nội trong cung ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh, các dự án lớn và những động lực tăng trưởng mới.
Áp lực trái phiếu đáo hạn gia tăng về cuối năm, trong khi dòng vốn mới vào bất động sản ngày càng phân hóa và tập trung ở một số doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, câu hỏi “Tiền ở đâu, vốn ở đâu?” vẫn là nút thắt của đầu tư và mở rộng sản xuất. Nhưng để tín dụng chảy mạnh hơn, lời giải không thể chỉ là nới điều kiện vay. Cần giúp ngân hàng nhận diện năng lực trả nợ qua dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị và tài sản khác, đồng thời có công cụ chia sẻ rủi ro để bảo đảm an toàn hệ thống.
Với mức tăng trưởng tín dụng đạt 8,98% trong 7 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế đang cho thấy khả năng hấp thụ vốn có những chuyển biến tích cực.
Tín dụng bất động sản không nên được nhìn nhận đơn giản theo hướng “siết” hay “mở”. Điều quan trọng hơn là dòng vốn được phân bổ vào đâu, phục vụ mục đích gì và đi kèm mức độ rủi ro ra sao. Theo VARS IRE, vốn cần được ưu tiên cho những dự án đủ pháp lý, có khả năng hoàn thành, tạo thêm nguồn cung nhà ở và đáp ứng nhu cầu thực; trong khi dòng tiền phục vụ đầu cơ hoặc những dự án không còn khả năng phục hồi cần được kiểm soát.
Bất động sản có nhu cầu vốn lớn, chu kỳ đầu tư dài và liên thông chặt chẽ với nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Vì vậy, quản trị rủi ro tài chính không thể chỉ dựa vào việc kiểm soát tín dụng mà cần minh bạch dòng tiền, giám sát theo từng dự án và có giải pháp hỗ trợ những dự án đủ khả năng hoàn thành.
Khoảng cách lớn giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận tín dụng đang trở thành một trong những điểm nghẽn lớn nhất của tăng trưởng kinh tế.