Trở lại Lam Sơn

Ở đời, ai mà chả vậy! Ngoài nơi “chôn nhau, cắt rốn”, nơi ta mãi mãi chịu ơn công sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha, còn biết bao miền quê để thương, để nhớ, để trái tim ta phập phồng mỗi khi nhắc đến. Đối với tôi, Lam Sơn là một miền quê như vậy.

Từ khi còn là một cậu học trò cấp II, nghe thầy giáo giảng về những trang sử hào hùng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 gắn với những địa chỉ đỏ như: Pác Bó, Tân Trào, rừng Trần Hưng Đạo, căn cứ Lam Sơn... thì không hiểu vì sao địa danh Lam Sơn cứ níu chặt trong tôi. Không biết là giữa Lam Sơn này với Lam Sơn ở Thanh Hóa, nơi dấy binh khởi nghĩa chống quân Minh của Lê Lợi và Nguyễn Trãi có mối liên hệ gì với nhau không? Hay đấy chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên do ông cha ta đặt tên từ thuở “khai thiên, lập địa”? Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam lại chọn nơi này làm căn cứ cách mạng, phát triển phong trào Việt Minh, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân?

Được tiếp xúc, trò chuyện với các vị lão thành cách mạng tôi mới hiểu rằng: Tên gọi Lam Sơn xuất hiện từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuyển từ Pác Bó về đây tháng 4/1942 để thuận lợi trong việc xây dựng và phát triển phong trào Việt Minh, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Do đó, đây là nơi hội tụ của những người cộng sản trung kiên nhất, mác xít nhất, sẵn sàng xả thân để cùng toàn dân đứng lên đập tan gông xiềng của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, mang lại độc lập cho dân tộc, cơm no, áo ấm cho nhân dân. Tại đây các cộng sự thân thiết của Người cho rằng nơi này cũng có những nét đặc thù như Lam Sơn (Thanh Hóa), nơi tụ nghĩa của những người yêu nước, cùng bàn mưu, tính kế đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi, mang lại thái bình cho sơn hà, xã tắc (thế kỷ XV). Vậy là Lam Sơn vừa có ý nghĩa kế thừa và phát huy tinh thần quật cường của ông cha ta, vừa có tác dụng lôi cuốn, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong vùng đi theo Việt Minh làm cách mạng. Và nói đến căn cứ Lam Sơn là phải nói đến phong trào cách mạng của các xã: Hồng Việt, Hoàng Tung, Bình Long (Hòa An) và Minh Tâm (Nguyên Bình) trước đây. Tất nhiên Hồng Việt là nơi để lại nhiều dấu ấn sâu đậm nhất về những năm tháng “nếm mật, nằm gai” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các cộng sự thân thiết của Người như: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp...

Theo các vị lão thành cách mạng, nói đến Lam Sơn là phải nói đến khí thế sục sôi làm theo lời hiệu triệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ và không thể không nói đến xưởng đúc vũ khí Lê Tổ do cụ Đặng Văn Cáp khởi xướng. Có tên Lê Tổ vì nói đến khởi nghĩa Lam Sơn là phải nói đến Lê Thái Tổ (Lê Lợi), nhưng để dễ gọi, dễ nhớ, các vị lãnh đạo lúc bấy giờ quyết định gọi tắt là Lê Tổ. Chính xưởng Lê Tổ là nơi rèn đúc, chế tác vũ khí cung cấp cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của quân dân Cao Bằng. Vì lẽ đó mà tên gọi Lam Sơn, Lê Tổ mãi mãi là điểm nhấn, là danh thơm của phong trào cách mạng Cao Bằng.

Một góc xóm Lũng Phầy, xã Hòa An. Ảnh: Dương Lan

Một góc xóm Lũng Phầy, xã Hòa An. Ảnh: Dương Lan

Xóm Lũng Phầy của đồng bào Mông trên lưng chừng núi Lam Sơn - Điểm khởi đầu của khu Thiện Thuật, khu Việt Minh hoàn toàn, từ lâu đã có sức lay động gọi mời con tim mình, nên cách đây 10 năm về trước lên Lũng Phầy, xã Hồng Việt, người đầu tiên tôi gặp là nhà giáo lão thành Lưu Văn Vừ, một người con ưu tú của đồng bào Mông nơi đây. Vì ngót nghét 40 năm gắn bó với nghề, lúc nào cũng hòa mình với tiếng cười, câu hát của tuổi thơ nên thầy vẫn giữ được nét đôn hậu, thắm tươi của tuổi trẻ. Sau một tuần trà lan man chuyện học, chuyện dạy, chuyện về những thăng trầm của cuộc sống, thầy lần lượt đưa tôi về “những năm tháng không thể nào quên” của đồng bào Mông Tỉnh Dảo - Lũng Phầy của thầy trong những ngày đầu của Cách mạng Tháng Tám. Giọng của thầy chậm chậm, thả từng tiếng, từng tiếng như rót những kỷ niệm vào tai tôi, tim tôi. Cả hai chúng tôi lâu lâu mắt lại dừng trong mắt, vừa xúc động, vừa tự hào. Thầy kể:

- Chú biết không, lúc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đây để gây dựng căn cứ Lam Sơn, anh còn nhỏ tuổi lắm, chưa biết gì cả. Lúc đó cả xóm chỉ có vài mái nhà tranh, quanh nhà che tạm bằng lá cây móc, cây báng ở trên núi. Xung quanh xóm rừng núi mịt mùng, cứ màn đêm buông xuống là phải đóng kín cửa, sợ thú rừng, sợ cả rắn rết. Nhưng khi biết Bác Hồ về, kêu gọi mọi người hãy theo Việt Minh, ủng hộ cách mạng là ai ai cũng nghe theo và làm theo. Riêng bố anh (cụ Lưu Văn Cụa) ít khi được ở nhà! Có lúc đi hàng mấy ngày đêm không về. Hỏi mẹ thì mẹ bảo là ông đi canh nương, đi đuổi thú dữ... Sau này lớn lên, biết đi chăn bò, lên rẫy giúp mẹ trỉa bắp thì mới biết là bố theo cụ Kim Đao, Cao Lý đi làm cách mạng để đánh Tây, đuổi Nhật. Được biết bố tôi là người rất gan dạ và tận tâm với mọi công việc, từ việc làm liên lạc, đưa thư đến việc bảo vệ các cuộc họp của các đồng chí lãnh đạo, bố đều hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nhờ đó mà sau này gia đình tôi được công nhận là gia đình có công với cách mạng. Tự hào lắm chú ạ! Ngưng một lát, thầy lại nói tiếp:

Cho đến bây giờ, cả xóm Lũng Phầy chúng tôi không bao giờ quên sự kiện tháng 3/1942 Bác Hồ rời Lũng Hoài về Tỉnh Dảo - Lũng Phầy ở với bà con người Mông chúng tôi, vài ngày sau Bác mới lên hang Lũng Sa. Chính tại hang này Bác hoàn thành việc dịch cuốn lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô để làm tài liệu tuyên truyền, huấn luyện cán bộ Việt Minh. Tại đây Bác được cả xóm chở che, bảo vệ, đặc biệt là gia đình ông Dương Kim Đao và vợ là Lý Thị Máy chăm sóc rất chu đáo. Mãi đến tháng 8/1942 Bác mới chia tay bà con để sang Trung Quốc. Cũng từ đây Bác giao toàn bộ công việc xuất bản báo Việt Nam Độc lập cho đồng chí Phạm Văn Đồng. Phải nói rằng Bác Hồ và các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp... được đồng bào trân trọng, yêu quý hơn cả người ruột thịt của mình. Ngược lại Bác và các đồng chí lãnh đạo cũng rất quý mến, thương yêu đồng bào chúng tôi. Cùng ăn, cùng ở, cùng làm và học nói cả tiếng Mông. Đặc biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn sáng tác thơ bằng tiếng Mông để cảm hóa, giác ngộ đồng bào đi theo Việt Minh: “Thùng dè mùa Việt Minh/Thùng dè cư tì pê/Trế mua, trế mua xia/Trế mua cư tì pê/Tố nhè, tố phá kí/Trễ mua cư tì pê”. Dịch: "Đồng lòng vào Việt Minh/Một lòng bà con ơi/Đứng lên đứng lên đi/Đứng lên bà con ơi/Đánh Nhật và đánh Pháp/Đứng lên bà con ơi!".

Cho đến bây giờ, lớp người như chúng tôi không ai là không thuộc bài thơ này. Đại tướng Võ Nguyên Giáp quả là vị tướng của lòng dân! Nhờ bài thơ ấy mà bà con người Mông mình thương yêu nhau hơn, một lòng, một dạ đi theo Đảng đến cùng để phong trào Việt Minh khu Thiện Thuật thành khu Việt Minh hoàn toàn, phát triển sang tận Phja Dạ, Cô Ba (Bảo Lạc) rồi sang cả Nà Viàn (Trung Quốc), tạo ra đường dây liên lạc với quốc tế, bảo đảm cho tổng khởi nghĩa thắng lợi sau này. 

Có phải do được tắm mình trong khí thế sục sôi của những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, lại sớm chịu ảnh hưởng của phong cách và đạo đức Hồ Chí Minh cũng như những tình cảm ấm áp của các vị lãnh tụ cách mạng lúc bấy giờ mà sau này tôi gặp nhiều người con của Lũng Phầy nói riêng, Hồng Việt nói chung ai ai cũng mặn mà, thủy chung và thăng hoa một trái tim nghệ sĩ. Vì thế mà tôi về Hồng Việt lần này cứ hồi hộp như trở về nhà. Mỗi bước một ngỡ ngàng vì những điều chưa biết lại vừa như cảm thấy thân thuộc tự bao giờ. Không phải vì những rặng tre cong vút quanh làng, đêm ngày ngả bóng mát rượi bên dòng Bằng Giang, hay vì những con đường bê tông phẳng lì, xe cứ bon bon vào cua êm ái, mà vì âm âm một vùng đất cổ đượm màu huyền thoại về một trăm con đại bàng không biết bay từ đâu tới mà 99 con đậu xuống vùng núi Lam Sơn này, còn con đầu đàn thì bay đi nơi khác, để lại vùng đất và con người nơi đây mãi mãi một ước vọng đẹp đẽ, cao sang và mãi mãi in đậm những dấu tích cách mạng như: Lũng Phầy, Lũng Chung, Nặm Giái, hang Lũng Sa, Ngườm Slưa... Những tên đất, tên làng, tên núi ấy là địa chỉ đỏ, là niềm tự hào của thế hệ trẻ Cao Bằng. Vì chính những địa chỉ đỏ ấy là một trong những căn cứ địa quan trọng xây dựng lực lượng cách mạng cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân và cũng là cội nguồn của cuộc sống thanh bình, no ấm trong công cuộc đổi mới và hội nhập hôm nay.

Vùng núi Lam Sơn, xã Hòa An. Ảnh: Thế Vĩnh

Vùng núi Lam Sơn, xã Hòa An. Ảnh: Thế Vĩnh

Những miên man ấy bỗng đưa tôi về một sớm mùa xuân cách đây 60 năm về trước. Với sự háo hức của tuổi trẻ tôi cùng với bao bạn bè của lớp giáo sinh sư phạm khóa IV hướng về Lam Sơn để tham quan Nhà máy miến và Nhà máy phốt phát Lam Sơn - 2 cơ sở đầu đàn của ngành công nghiệp Cao Bằng lúc bấy giờ. Vì là mới lớn, con mắt còn ngơ ngác trước mọi sự đổi thay của thời cuộc nên hai nhà máy ở chân núi Lam Sơn hồi ấy mãi mãi sống động trong tôi và mãi mãi nhớ về vùng đất bình dị mà đầy kiêu hãnh này. 

Để rồi niềm vui nối tiếp niềm vui, sau nhiều chục năm trở lại tôi thực sự ngỡ ngàng trước những đổi thay kì diệu của quê hương Lam Sơn. Từ trụ sở xã đến các thôn Lam Sơn Hạ, Lam Sơn Thượng, nhà cao tầng rồi quán xá mọc lên gần như chật kín cả hai bên đường. Ô tô, xe máy ngược xuôi, vun vút, thay thế cho cái vắng vẻ, đìu hiu ngày nào. Dấu hiệu của một nông thôn mới với các tiêu chí cần có đang hiện hữu. Nhất là từ khi cây cầu Hoằng Bó được xây dựng với mức đầu tư hàng chục tỷ đồng và trên 10 km đường bê tông nối liền Hồng Việt (Hòa An) với Minh Tâm (Nguyên Bình) trước đây, mở ra một trang mới cho Lam Sơn và cho nhiều bản làng khác dọc theo hai bên bờ của dòng sông Bằng trong việc giao thương, buôn bán cũng như cho con em đi học. Riêng trường học thì nơi đây có thể nói là niềm mơ ước của nhiều nơi khác. Xã có đủ từ trường Mầm non, Tiểu học, đến Trung học cơ sở 2 tầng khang trang, 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường. 

Người dân vùng Lam Sơn nhờ thế mà tiếp cận nhanh hơn các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, thực sự tạo ra một bước ngoặt mới trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Lúa và thuốc lá vẫn được xác định là hai cây trồng mũi nhọn của địa phương. Từ chỗ tự cung, tự cấp trước đây, nay người nông dân Lam Sơn có thêm nhiều sản phẩm hàng hóa từ đồng ruộng cung cấp cho thị trường. Đáng kể nhất là các loại rau xanh, táo, thanh long được các thương lái lên đặt mua tận gốc. Nhất là từ khi thực hiện chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) góp phần thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp, tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, hướng tới xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị nông sản. 

Riêng năm 2025, xã Hòa An có 3 sản phẩm OCOP (mật ong Bình Phương, rượu ngô Bình Long, lạp sườn bà Nụ). Đây không chỉ là con số biết nói, thể hiện hiệu quả rõ ràng của chính sách, chương trình hỗ trợ mà còn là minh chứng cho sự nỗ lực, quyết tâm cao của hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân trong công cuộc giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu. Chính sự thay đổi tích cực về thu nhập đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn dân, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành tiêu chí nông thôn mới. 2 năm gần đây số hộ khá giả có mức thu nhập bình quân 100 triệu đồng/năm ngày càng tăng thêm, tạo đà cho những bước phát triển tiếp theo của xã trên con đường xây dựng nông thôn mới.

Về Lam Sơn - Hòa An lần này được chia sẻ nhiều niềm vui, dẫu sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới còn những bộn bề, khó khăn nhưng tôi tin với việc phát huy truyền thống của một vùng quê cách mạng, nhất định Đảng bộ và nhân dân xã Hoà An sẽ gặt hái những thành công mới. Càng ngẫm nghĩ tôi càng thêm yêu mảnh đất này và như muốn hít căng lồng ngực cái gió mơn man, êm dịu của Lũng Phầy, ôm vào lòng mình màu mây của vùng núi Lam Sơn, cầu chúc cho Lam Sơn - Hòa An mãi mãi thắm đượm nghĩa tình cách mạng.

  Chu Sĩ Liên

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/tro-lai-lam-son-3191565.html