Ấn tượng Xuân Đàm
LTS: Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Xuân Đàm là một tên tuổi lớn của ngành sân khấu Việt Nam, từ trần vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 14/9/2026 tại phường Nam Đông Hà, hưởng thượng thọ 96 tuổi. Ông nguyên là Giám đốc Sở Văn hóa-Thông tin Quảng Trị, hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, hội viên Phân hội Sân khấu, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trị. Sinh thời, ông đã gắn bó hơn 7 thập niên với sân khấu trong nhiều vai trò như người lính, diễn viên, đạo diễn, nhà giáo và nhà quản lý văn hóa. Từ những năm 1970, ông dàn dựng nhiều vở kịch dân ca, kịch nói và tuồng nổi tiếng như Trần Thủ Độ, Chuyện đời thường vớ vẩn, Độc thoại đêm, Đứa con nối dõi, Ám ảnh, Huyền thoại mẹ, Mùa tôm, Nàng Xi-ta… Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSND năm 1997; Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng.
8 giờ sáng ngày 1/1/1991, tại Nhà hát lớn TP. Hồ Chí Minh đã ghi một cột mốc đáng nhớ. Đó là thời khắc khai sinh Đoàn kịch Quảng Trị với vở “Chuyện đời thường vớ vẩn” của nhà văn Xuân Đức, do nghệ sĩ Xuân Đàm đạo diễn cùng ba diễn viên chính Kim Quý, Chánh Phùng và Tiểu Hoa trước sự chứng giám của đông đảo đại biểu ngành sân khấu cả nước. Một kết quả đẹp làm nức lòng người. Hai huy chương vàng cho Kim Quý và Chánh Phùng, một huy chương bạc cho Tiểu Hoa.
Từ đây, sân khấu Quảng Trị dường như đã bắt đầu tìm được tiếng nói riêng, dấu ấn riêng trong nền sân khấu hoành tráng của đất nước. Và đạo diễn Xuân Đàm thêm một lần nữa khẳng định tài năng của mình.

Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Đàm (thứ 2 từ phải sang) và Nghệ sĩ Nhân dân Kim Quý (thứ nhất từ trái sang) trò chuyện với các diễn viên điện ảnh tại nhà riêng - Ảnh: Đ.T.T
Gắn bó hơn 7 thập niên với sân khấu, Xuân Đàm luôn khẳng định là một đạo diễn tài ba, ấn tượng và độc đáo. Độc đáo bởi ông chẳng bao giờ bằng lòng với những gì sẵn có trên sân khấu muôn thuở. Ông Tất Đạt từng kể rằng, mấy thước dài, mấy thước rộng của sàn diễn dưới con mắt nhà nghề của Xuân Đàm thường trở nên tù túng, bức bối, không đủ chỗ để ông dàn cảnh, không đủ “đất” để diễn viên thỏa sức diễn sống động như cuộc sống vốn có. Những tấm cánh gà buông rũ, chiếc bục im lìm, cái ri đô lẳng lặng, ông muốn chúng phải cựa quậy, phải tung bay, phải cuộn mình lên.
Có lần mượn rạp Đông Đô ở Hà Nội để công diễn vở “Bình minh đó, trái tim anh”, Xuân Đàm đã cho lột hết tất cả cánh gà, phông màn, ri đô xếp vào một xó. Chiếc thang sắt để leo lên trần rạp chỉ dành riêng cho công nhân hậu đài treo phông thì vào tay ông, chúng biến thành một đạo cụ trang trí rất sống động. Những bức tường của sân khấu trong một rạp cũ có từ hơn nửa thế kỷ trước lập tức biến thành bức phông hậu đài rất tự nhiên. Ông cho lắp bản lề vào các mảnh bục gỗ để khi diễn có thể xô ra như hai cánh bướm, để dập dềnh như chiếc hai dĩa cân, để kéo lên kéo xuống như đôi cánh chim…

Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang trò chuyện với Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Đàm - Ảnh: Đ.T.T
Từ thời còn ở tuổi học trò, tôi đã từng nghe nhà viết kịch Đào Hồng Cẩm nói chuyện về vở “Tiếng hát”. Đó như một bài thơ về tình yêu, lòng chung thủy và sự hy sinh cao cả của tuổi trẻ ở đôi bờ sông Bến Hải thuở đất nước còn bị tạm thời chia cắt. Nhưng cho đến một ngày, được tận mắt cảm nhận “Tiếng hát” ngay trên sân khấu thực, dưới bàn tay đạo diễn tài hoa của Xuân Đàm, tôi mới thấy vở kịch đã có sự khởi mở, lay thức, chạm đến đến tận cùng cảm xúc người xem.
Xuân Đàm đã truyền cả nhịp thở cuộc sống vào vở kịch, chắp cánh cho những ý tưởng lớn lao bay bổng. Này đây, khi tấm màn nhung mở ra, trước mắt người xem là một chiếc cầu với những cột sắt xếp vào nhau, giản đơn, gần gũi, diệu vợi. Nhưng đấy là dòng sông Bến Hải và cây cầu Hiền Lương vắt ngang mình đất nước gợi thức khát vọng thống nhất của cả dân tộc đằng đẵng hơn 20 năm.
Đấy là căn hầm chữ A quen thuộc của người dân lũy thép chở che cuộc sống, nuôi lớn ý chí đánh giặc, bảo vệ quê hương, để Bắc-Nam sum họp một nhà. Đấy còn là chiếc tàu chiến của giặc mưu toan xâm phạm vào vùng biển Tổ quốc, bị quân và dân Vĩnh Linh đánh cho tan tác… Sân khấu dưới bàn tay của đạo diễn Xuân Đàm là thế, mỗi đồ vật tuy giản đơn, dung dị, chân mộc nhưng lại được bày trí, sắp xếp để tận dụng tối đa “ngôn ngữ” và sự tỏa sáng để chuyên chở và biểu đạt cho được “phần hồn” của vở kịch.
Trong bài viết: “Con mắt và tấm lòng người đạo diễn”, tác giả Nguyễn Thị Minh Thái chia sẻ: “Khen cho con mắt tinh đời của Xuân Đàm, với khả năng lạ hóa, đã nhìn thấy từ trong cấu trúc là lạ của kịch bản “Tiếng hát” những yếu tố cho phép đưa vào những ý đồ và thử nghiệm táo bạo về phương diện đạo diễn. Và cũng khen cho tấm lòng nhân hậu, ấm áp của anh đã biết phát hiện ra cái lõi nhân văn ẩn chìm trong chủ đề về số phận người phụ nữ đi qua chiến tranh của tác giả Đào Hồng Cẩm, do đó đã cân bằng lại cái thế cheo leo của nội dung kịch bản”.

Đạo diễn Xuân Đàm ( bên phải) đón nhận danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân - Ảnh: Đ.T.T
Với “Bão tố ngoài khơi” của Lê Bá Sinh, lần đầu tiên, Xuân Đàm mạnh dạn tung lên sân khấu tất cả sự biểu đạt khốc liệt từ một tai ương của biển cả. Con thuyền chòng chành, mũi thuyền đau đáu hướng về đất liền nhưng thân mình đã dầm sâu trong nước mặn. Và gió và sóng thỏa sức gầm thét. Những tấm lưới cá chao nghiêng. Bánh lái run rẩy vặn mình trước cơn thịnh nộ của đại dương. Sân khấu lúc đó đã vượt ra ngoài kích thước chật hẹp để đưa người xem đến với bao la của thiên nhiên, đất trời, sự sống…
Chỉ với ba mảnh lưới rộng bằng bề ngang của sân khấu nhưng khi treo lên cao là những đám mây đen đe dọa cuộc sống của người dân biển; khi hạ xuống sàn sân khấu là sóng biển nhấp nhô; khi kết thành những góc nhọn là mui của những con thuyền. Nhà thơ Xuân Hoàng từng nhận xét: “Vở kịch như một bài thơ về biển cả”.
“Độc thoại đêm” của tác giả Lê Duy Hạnh-tác phẩm dự thi Liên hoan sân khấu nhỏ toàn quốc đợt tháng 2/1996 của Đoàn kịch thể nghiệm-Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị được xem như một phát hiện lạ của sân khấu lúc bấy giờ. “Độc thoại đêm” với chỉ một nhân vật Lý Chiêu Hoàng, do diễn viên Kim Quý thể hiện dưới bàn tay đạo diễn tài ba của chồng chị, NSND Xuân Đàm.

Nghệ sĩ Nhân dân Xuân Đàm (bên phải) tham dự Đại hội Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị lần thứ V, nhiệm kỳ 2014-2019 - Ảnh: Đ.T.T
Vở kịch không những đặt sức nặng lên vai diễn viên-nhân vật duy nhất của vở diễn mà còn là thách thức tay nghề của đạo diễn. Làm sao vở kịch trở nên khúc chiết, mạch lạc. Làm sao để sân khấu không bị trống trải vì một nhân vật duy nhất. Với tâm hồn nhạy cảm và tài năng sáng tạo, Xuân Đàm đã tìm được cách xử lý độc đáo và hiệu quả.
Để triệt để khai thác không gian sân khấu, ông đã sử dụng nhiều dải lụa với nhiều màu sắc tượng trưng, trong đó ấn tượng nhất là dải lụa đỏ từ trần sân khấu (kinh đô) bay thẳng về tận cuối phòng khán giả (muôn dân). Chính Xuân Đàm chứ không ai khác đã giữ nhịp cho dải lụa đỏ cuộn mình, chuyên chở những ý tưởng thâm trầm cùng với những hình trái tim long lanh, xao động đã tạo dấu ấn khó quên trong lòng khán giả.
Với Xuân Đàm, dù những năm tháng cuối đời lâm bệnh nhưng với lĩnh vực sân khấu, ông mãi mãi vẫn là một đạo diễn tài năng có sức trình diễn cuốn hút, thuyết phục và đầy sáng tạo, một sức vươn mãnh liệt để vượt qua chính mình với ước vọng “đắc đạo” trong nghệ thuật.
Tháng 9/2010, cố nhà văn Xuân Đức đã từng viết về NSND Xuân Đàm với tất cả sự kính trọng: “Xuân Đàm, người NSND theo đúng cái nghĩa cụ thể của hai tiếng Nhân dân. Anh là con tằm sinh thành và trú ngụ trong cái vỏ kén Nhân dân. Anh đã sống một cuộc sống của con tằm cần mẫn và cho đến giây phút này, cái phút bù giờ của cuộc đời, con tằm Xuân Đàm vẫn khát khao nhả những óng tơ vàng để cho ráng chiều hoàng hôn càng vàng thêm cái màu vàng huyền diệu…”.
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202609/an-tuong-xuan-dam-fb32afe/
