Hầu như người Việt Nam nào cũng nhớ tháng 7 - tháng có kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; tháng lấy đi nước mắt của nhiều người vì lòng thương nhớ, biết ơn hàng triệu người đã hy sinh cho cây độc lập, tự do của nước nhà đơm hoa kết trái.
Trong dòng chảy thi ca Việt Nam hiện đại, thơ viết về mẹ luôn là một mạch nguồn cảm xúc dạt dào. Bởi mẹ là biểu tượng cho tình yêu vô điều kiện, cho sức chịu đựng vô biên, cho hình ảnh người phụ nữ tảo tần gắn liền với số phận dân tộc.
Bài thơ 'Sao anh chưa về?' là tiếng lòng thổn thức của người ở lại, gửi đến người lính đã hy sinh mà vẫn chưa một lần trở về - dù chỉ là trong giấc mơ, hay qua một nắm đất yên bình mang tên anh. Từng câu thơ như khói hương trầm, nhẹ bay trong không gian tưởng niệm, thấm đẫm nỗi nhớ, niềm day dứt và cả hy vọng không nguôi.
Dân tộc ta thì từ ngàn xưa đã có những phương thức sống rất nhân văn truyền từ đời này sang đời khác, 'uống nước nhớ nguồn', 'ăn quả nhớ người trồng cây'…
Đúng ngày đất nước kỷ niệm 78 năm này thương binh liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2025), tôi mới 'giải mã' được câu chuyện về liệt sĩ Ngô Xuân Quảng, chiến sĩ trung đội trinh sát Tiểu đoàn 631 anh hùng, tiểu đoàn độc lập trực thuộc Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.
Trong khu vườn thơ ca cách mạng Việt Nam, 'Nấm mộ và cây trầm' của nhà thơ - chiến sĩ Nguyễn Đức Mậu là một thi phẩm đặc biệt. Bài thơ không chỉ mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, mà còn như một tượng đài lặng thầm về tinh thần bất khuất, tình đồng đội thiêng liêng và sự hy sinh cao cả của những người lính giữa chiến trường khốc liệt.
Giữa tọa độ lửa Đồng Lộc năm 1968, bài thơ 'Cúc ơi' vang lên như lời gọi hồn linh thiêng, dẫn lối tìm thấy thi thể cuối cùng trong 10 cô gái thanh niên xung phong. Tháng Bảy này, giữa đồi thông Bãi Dĩa, người người lại gọi tên những cô gái đã hóa bất tử.
'Núi đôi' và 'Quê hương' là tên hai bài thơ làm nên tên tuổi và thương hiệu trong thơ của Vũ Cao và Giang Nam - một nhà thơ thời chống Pháp và một nhà thơ thời chống Mỹ.
Bài thơ 'Tháng Bảy' của nhà thơ Nguyễn Đăng Độ vang lên tựa lời thì thầm trang trọng và tha thiết. Không cầu kỳ tu từ, không nặng về khái niệm, ông viết bằng cảm xúc lắng đọng của người từng đi qua chiến tranh, từng cúi đầu trước những tấm bia vô danh, từng nắm đất nâu trên mộ người lính chưa trở về.
Đinh Ngọc Diệp quan niệm: 'Thơ là tiếng vang của cuộc sống được chắt lọc qua tâm hồn', sống ngay ở biển, vì thế biển và ngư dân trở thành chủ đề thường trực trong thơ anh. Biết bao khuôn mặt, thân phận trắc ẩn, đặc biệt là những ngư dân ngày đêm mưu sinh trên biển, làm chủ biển khơi mà không biết rủi ro, đau thương ập đến khi nào.
Trở về từ chiến trường với đôi mắt vĩnh viễn không còn ánh sáng, người lính Cao Văn Thành đã có vợ làm đôi mắt, cùng ông đi qua giông bão cuộc đời.
Bài hát 'Gửi em ở cuối sông Hồng' của Dương Soái ở Lào Cai ra đời khi được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc, bài hát trở thành biểu tượng của tình yêu trong chiến tranh nơi biên giới phía Bắc dung dị, thủy chung và đầy xúc động.
Tri ân Tổ quốc là một ca khúc vừa hào hùng, vừa đậm chất trữ tình sâu lắng, do Phạm Việt Long phổ nhạc bài thơ cùng tên của Vũ Thị Hưng.
Từ trái tim người trong cuộc, tác giả Yến Thanh đã viết nên 'Cúc ơi' - bài thơ lay động lòng người, khắc họa chân thực sự khốc liệt của cuộc chiến tranh và tinh thần quả cảm của những con người tại Ngã ba Đồng Lộc.
Tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt truyền cảm hứng qua hai ấn phẩm mới: 'Con yêu mẹ nhiều' và 'Sức mạnh lớn hay Điều kỳ diệu nhỏ'
Tại buổi tọa đàm 'Tri ân cựu thanh niên xung phong - Thời hoa lửa', những câu chuyện về cuộc đời của cựu thanh niên xung phong ̣(TNXP) từng đi qua chiến tranh bằng tuổi xuân khiến nhiều người xúc động.
Đọc bài thơ 'Thì thầm những dòng sông' của nhà báo Nguyễn Hồng Vinh, nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại rất thú vị khi Hồng Vinh miêu tả những phụ nữ miền Tây đêm đêm túc trực bên bờ sông đón các anh bộ đội vượt sông để đưa vào hầm bí mật. Chị nào cũng khoác tấm khăn rằn, làm các chàng trai cảm thấy 'Tấm khăn rằn như châu thổ thêu lên'.
O Nhị, người phụ nữ từng là hình tượng trong bài thơ 'Gửi em, cô thanh niên xung phong' của nhà thơ Phạm Tiến Duật nay đang sống đơn độc trong căn nhà nhỏ bên biển Thạch Kim (nay là xã Lộc Hà, Hà Tĩnh). Thanh xuân o Nhị gửi lại chiến trường, tuổi già một mình lặng lẽ, chồng chất nỗi lo toan.
Ngậm ngải tìm trầm là tập thơ thứ tư của nhà thơ Hồ Sĩ Bình, sau các tập Mưa nắng lưng đèo, Ngày sinh của gió, Chờ hương thả gió… vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành vào tháng 5-2025.
Không còn đơn thuần là một cuộc gặp gỡ văn chương, hành trình giao lưu định kỳ giữa giới văn học Việt Nam và Hàn Quốc đang định hình một không gian đối thoại xuyên biên giới. Thi ca trở thành nhịp cầu gắn kết cảm xúc, mở rộng hợp tác và lan tỏa tinh thần nhân văn trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Mấy câu thơ trúc trắc, gập ghềnh như sự chếnh choáng của con người trong cơn bão táp của đời sống tình cảm.
Nhà thơ Ngô Nếp, sinh năm 1968, tên thật là Ngô Thị Ninh, quê ở xã Minh Côi, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ (nay là xã Văn Lang, tỉnh Phú Thọ). Nhà thơ Ngô Nếp là hội viên Câu lạc bộ Thơ thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ.
Nhà thơ Nguyễn Thị Vân Anh (Vân Anh), Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An vừa xuất bản 'Trầm tích thời gian', NXB Nghệ An tháng 5/2025. Tập thơ gồm 62 bài, tiếp tục khắc họa lên 'bản đồ tâm hồn' nữ nhà thơ xứ Nghệ.
Vừa qua, NXB Văn học & Book Hunter đã phát hành bản dịch tuyển tập thơ 'Khúc ca Thơ ngây và Từng trải' của William Blake (28/11/1757-12/8/1827) - nhà thơ, họa sĩ người Anh chiếm giữ một vị thế độc đáo trong lịch sử nghệ thuật phương Tây ở cả lĩnh vực thị giác và văn chương.
Bằng sự tận tâm, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Cẩm Hưng (Hà Tĩnh) đã nhận được sự hài lòng và nhiều tình cảm từ người dân. Bài thơ 'điểm 10' của một cụ ông là minh chứng sống động cho tinh thần phục vụ 'lấy dân làm gốc' tại đây.
Vượt lên khó khăn thử thách, người phụ nữ trẻ vùng cao Hồng Nhạn vừa dạy học vừa lặng lẽ sáng tác, sau tập truyện ngắn 'Đời cỏ lau' (2023), chị mới ra mắt tập thơ 'Hoa rêu' (NXB Hội Nhà văn, 5/2025). Sự xuất hiện của cây bút đa năng có tiềm lực như một ngọn gió mới thổi vào đời sống văn học Đông Nam Bộ...
Bài thơ 'Chị tôi' của Hồ Thế Hà là một khúc ca u hoài nhưng thấm đẫm nhân văn, được viết như thể bao giọt lệ của thi ca đã lặng lẽ thấm sâu vào từng dòng, từng chữ. Nhà thơ không chỉ viết, mà như rót cả trái tim, nỗi lòng và những ký ức đầy thương nhớ, đau đáu vào mỗi câu thơ.
Nhà thơ, dịch giả Võ Thị Như Mai tin rằng thi ca không chỉ là nghệ thuật ngôn từ, mà còn là phương tiện đầy quyền lực chuyên chở tình yêu, sự đồng cảm và bản sắc văn hóa Việt Nam đến bất kỳ nơi đâu trên thế giới.
Nhờ có chút duyên, chúng tôi có được cuốn sách đầy đặn của thầy Nguyễn Khuê, giảng viên của Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), là cuốn Tuyển tập Nghiên cứu và sáng tác do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2016. Trước khi về hưu, ông là Trưởng ban Hán Nôm của Khoa Ngữ văn và báo chí (Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn), sở hữu nhiều công trình nghiên cứu Hán Nôm có giá trị.
'Mường Khương xanh rất xanh…/Biên giới ơi yêu lắm một cung đàn/Một cung đàn tròn dân tôi người pa dí/Một cung đàn tròn như ánh trăng rằm/Một cung đàn tròn như mặt trời nắng mai rực rỡ'… đó là những câu thơ trong bài thơ 'Đất nước tôi xanh một cung đàn tròn' của nhà thơ Pờ Sảo Mìn.
Giữa dòng đời ngược xuôi, có lẽ không ít lần ta tự hỏi: Cái đích mà ta đang hướng đến là gì?
Tôi vốn thích đọc những bài bình thơ, những bài 'dọn vườn' thơ, mục đích chỉ là để học hỏi và suy ngẫm.
Nhiều năm sau bài thơ Mèo con đi học của Phan Thị Vàng Anh trong sách giáo khoa, nay lại có thêm Mèo con của Phùng Phương Quý trong Tiếng Việt 2, tập 2, bộ Cánh diều. Chú mèo con tinh nghịch, dễ thương 'rình bắt' cái đuôi của mình đã đi vào trang sách trẻ thơ, được nhiều trẻ em từ tuổi mầm non đến tiểu học thuộc lòng.
Liệu AI có thể 'xâm lấn' thế giới văn học, từ đó 'cạnh tranh' mạnh mẽ với văn nhân không?
Tôi có ấn tượng với bài thơ 'Sông Bến Hải' của Trần Đình Việt. Bình về bài thơ này, tôi viết: 'Có vẻ như một lần nữa, vết thương Bến Hải - vết thương của sự chia cách đất nước thuở nào lại được tái hiện qua thơ bằng 'Sông Bến Hải' và đương nhiên là được cụ thể hóa qua một cuộc chia ly đặc biệt giữa một người mẹ và một người con trai.
Bài thơ mang tít Vô đề nhưng có không ít người trong giới ĐẸP, tự đặt nhiều đầu đề dựa theo tâm trạng của nhân vật 'em' trong bài thơ, ví như Lời nhắn gửi; Sao anh tránh né?; Tơ sen còn vương?… Mỗi người đều có lý và cảm thông tâm trạng của nhân vật.
Ở Phú Thọ, nhà thơ Nguyễn Hưng Hải và con gái Nguyễn Hải Yến được biết đến là những người cần mẫn sáng tác, chịu khó tìm tòi, cả hai cùng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đặc biệt, nhà thơ Nguyễn Hưng Hải đã lựa chọn sáng tác về Chủ tịch Hồ Chí Minh là mạch cảm xúc chủ đạo, để ông và gia đình luôn được sáng soi, tiếp sức trên con đường văn chương.