Giữ vững danh trà Trại Cài
Từ lâu, chè Trại Cài (Thái Nguyên) đã nổi tiếng bởi hương thơm đặc trưng, vị đượm và nước trà sóng sánh màu mật ong. Sau sáp nhập, xã Đồng Hỷ trở thành địa phương sở hữu vùng chè danh tiếng này.

Vùng chè Trại Cài nhìn từ trên cao.
Xây dựng vùng chè an toàn
Trại Cài là vùng chè đầu tiên của tỉnh triển khai xây dựng vùng chè đạt tiêu chuẩn VietGAP trên diện tích 10ha từ giai đoạn 2009-2010. Từ những bỡ ngỡ ban đầu, người dân dần làm quen với việc ghi nhật ký sản xuất, sử dụng nguồn nước sạch và thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong chăm sóc chè.
Từ đó, phương thức sản xuất an toàn từng bước được nhân rộng. Đến nay, phần lớn các hộ trồng chè trên địa bàn, dù chưa được cấp chứng nhận VietGAP, vẫn chủ động áp dụng quy trình sản xuất theo hướng an toàn.
Hiện, toàn xã có hơn 1.000ha chè; trong đó 193,3ha được chứng nhận VietGAP, hữu cơ, chiếm 18,4% tổng diện tích và 85ha được cấp mã số vùng trồng. Đây là nền tảng để địa phương xây dựng vùng nguyên liệu an toàn, nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển thương hiệu chè bền vững.
Gia đình bà Nguyễn Thị Hòa là một trong những điển hình. Với 7 sào chè, mỗi năm thu hoạch 3 lứa, từ năm 2020, bà chuyển sang sản xuất chè an toàn. Thời gian đầu, năng suất giảm do cây cần thời gian phục hồi, việc sử dụng phân hữu cơ cũng chưa quen. Tuy nhiên, khi cây chè thích nghi, hiệu quả ngày càng rõ nét: chè sinh trưởng tốt, búp ra đều, đậm vị, ít sâu bệnh. Hiện mỗi sào cho thu khoảng 1 tạ chè tươi, cao hơn so với trước khi chuyển đổi.

Người dân xã Đồng Hỷ chuyển dần từ canh tác truyền thống sang chăm sóc theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ.
Sự thay đổi ở vùng chè Trại Cài bắt đầu từ nhận thức của người dân trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, có trách nhiệm. Thay cho việc lạm dụng phân bón hóa học, nhiều hộ chuyển sang sử dụng các chế phẩm sinh học có nguồn gốc tự nhiên.
Thực tế cho thấy, trên các nương chè VietGAP, hữu cơ, cây chè khỏe hơn, ít sâu bệnh, không xuất hiện rong rêu gây hại; đất tơi xốp, màu mỡ hơn. So với trước đây, khi sử dụng nhiều phân đạm, cây chè hiện có khả năng chống chịu tốt hơn với nắng nóng kéo dài, ít bị héo. Không chỉ chất lượng được nâng lên, năng suất cũng tăng khoảng 20% so với thời điểm chưa chuyển đổi.
Theo bà Ngô Thị Vân, ở xóm 14, xã Đồng Hỷ, sản xuất chè hữu cơ đòi hỏi sự kiên trì vì năng suất có thể giảm trong giai đoạn đầu. Song về lâu dài, chất lượng chè đồng đều hơn, cây khỏe hơn. Đặc biệt, nhờ đầu tư hệ thống tưới tự động, ngay cả vụ đông năng suất chè cũng cao hơn trước.
Nguồn nguyên liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ đã tạo điều kiện để các hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp trên địa bàn phát triển nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao như trà đinh, trà tôm nõn, trà sen... Hiện xã Đồng Hỷ có 14 sản phẩm trà đạt chứng nhận OCOP từ 3 đến 4 sao.
Liên kết chuỗi, nâng tầm thương hiệu
Làm ra búp chè ngon đã khó, tiêu thụ được với giá trị cao còn khó hơn. Để giải bài toán này, xã Đồng Hỷ chú trọng tăng cường liên kết giữa các HTX, doanh nghiệp chế biến trà với người trồng chè nhằm hình thành chuỗi giá trị bền vững.
Hiện, trên địa bàn xã có 22 HTX và 10 làng nghề truyền thống đang hoạt động, trong đó phần lớn sản xuất, chế biến trà. Các HTX đẩy mạnh liên kết, bao tiêu nguyên liệu cho người dân. Nếu trước đây, chè chủ yếu được bán cho thương lái thì nay nhiều HTX thu mua với giá cao hơn thị trường từ 10.000 đến 20.000 đồng/kg chè tươi.

Các sản phẩm chè ở Đồng Hỷ được đầu tư về mẫu mã, bao bì, đảm bảo truy xuất nguồn gốc.
HTX Tuyết Hương là một trong những đơn vị tiêu biểu. Thành lập từ năm 2012, đến nay, HTX đã liên kết, bao tiêu nguyên liệu tại hầu hết các xóm trên địa bàn xã Đồng Hỷ; xây dựng được 5ha chè được cấp mã số vùng trồng và 15ha đạt tiêu chuẩn VietGAP. Các hộ tham gia liên kết được hướng dẫn ghi chép nhật ký sản xuất, quy trình chăm sóc và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định.
Song song với phát triển vùng nguyên liệu, HTX đầu tư máy móc hiện đại, đổi mới mẫu mã, bao bì để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Đến nay, HTX có 5 sản phẩm OCOP 4 sao và đang hướng tới xây dựng sản phẩm OCOP 5 sao.
Bà Trần Thị Tuyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX Chè Tuyết Hương, cho biết: HTX đặc biệt chú trọng liên kết sản xuất với người dân vì đây là nguồn nguyên liệu quyết định chất lượng sản phẩm. Từ vùng chè đạt tiêu chuẩn VietGAP, hướng hữu cơ, các sản phẩm đều đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Nếu chè khô bán ngoài thị trường có giá khoảng 200.000-500.000 đồng/kg thì các sản phẩm đạt OCOP có thể đạt từ 600.000 đồng đến hơn 1 triệu đồng/kg, tùy từng loại.
Hiện, trên địa bàn xã Đồng Hỷ có nhiều HTX, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả như HTX Tuyết Hương, HTX Thịnh An, HTX Nguyên Việt, HTX Minh Đeng, Công ty Cổ phần Chè Trại Cài Thái Nguyên..., góp phần đưa thương hiệu trà Trại Cài vươn xa trên bản đồ trà Việt Nam và thế giới.
Theo ông Nguyễn Minh Huy, Phó Chủ tịch UBND xã Đồng Hỷ, địa phương tập trung hỗ trợ các HTX, doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ và quảng bá sản phẩm; trong đó lấy chất lượng làm yếu tố cốt lõi để phát triển thương hiệu chè. Theo định hướng đến năm 2030, xã phấn đấu duy trì diện tích chè hơn 1.000ha; 70% diện tích chè sản xuất tập trung được chứng nhận VietGAP, hữu cơ và cấp mã số vùng trồng; 100% cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh chè đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm.
Đồng thời, địa phương đặt mục tiêu có 25 sản phẩm trà đạt OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó có 1 sản phẩm OCOP 5 sao; 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được đưa lên các sàn thương mại điện tử và nền tảng số.
Việc chuyển đổi phương thức sản xuất, mở rộng liên kết chuỗi và xây dựng thương hiệu đang tạo nền tảng để vùng chè Trại Cài phát triển theo hướng hiện đại, an toàn và bền vững, tiếp tục khẳng định vị thế một trong "Tứ đại danh trà" của Thái Nguyên.












