Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho hay, hàng năm Việt Nam bỏ ra khoảng 170 triệu USD để nhập gần 400 nghìn m3 gỗ dán sử dụng cho chế biến đồ gỗ. 5 tháng năm 2020, nhập khẩu gỗ dán của Việt Nam đạt trên 64,6 triệu USD. Nhập khẩu gỗ dán vào Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh kèm theo đó là những rủi ro cho ngành gỗ. Hình thành và thực hiện các cơ chế giảm thiểu rủi ro nguồn cung gỗ dán được các chuyên gia khuyến nghị.
Nước về tràn đồng đã 'hồi sinh' hơn 20 ha đất nông nghiệp bỏ hoang của thị trấn Lộc Hà (Hà Tĩnh) trong vụ hè thu nhiều năm qua.
Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng của ngành gỗ những tháng đầu năm và có thể là cả năm 2020. Giải pháp nào để vực dậy ngành gỗ, hướng tới phát triển bền vững trong tương lai là bài toán đang được đặt ra cấp thiết.
Doanh nghiệp gỗ đình trệ sản xuất kinh doanh bởi dịch Covid-19 trải khắp các địa phương phát triển chế biến gỗ, từ Bình Định, Đồng Nai, Bình Phước, Nghệ An đến TP.HCM. Hiện các doanh nghiệp buộc phải lựa chọn 'Tồn tại để phát triển' và 'đóng cửa để phá sản'. Tất nhiên, không doanh nghiệp nào muốn lựa chọn phương án thứ hai, nên nhiều doanh nghiệp đang vật lộn để tồn tại qua đại dịch.
Cũng như nhiều ngành kinh tế khác của Việt Nam, ngành chế biến, sản xuất gỗ đang thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp từ các doanh nghiệp nước ngoài (FDI). Bên cạnh việc góp phần quan trọng thúc đẩy ngành gỗ phát triển, các doanh nghiệp FDI cũng đang tạo ra sức ép lớn cho các doanh nghiệp trong nước và chính sách quản lý của Nhà nước về lĩnh vực này.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, 'bức tranh' thương mại gỗ giữa Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu hình thành do nhóm các mặt hàng gỗ nguyên liệu. Dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát vào tháng 12/2019 đang và sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến mối quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia và các luồng cung xuất khẩu khác của Việt Nam đi các nước.
Vị thế của nông hộ đóng vai trò trung tâm đầu vào của mặt hàng xuất khẩu tỷ USD nhưng thực tế cho thấy chiến lược phát triển hồ tiêu - với tư cách một mặt hàng xuất khẩu tỷ USD - vẫn thiếu những cơ chế, chính sách phù hợp.
Nhiều chuyên gia nhận định, gian lận thương mại trong ngành gỗ đang là rủi ro rất lớn cho chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam.
Hiện tượng lẩn tránh xuất xứ hàng hóa vẫn đang tiếp tục lan sang nhiều mặt hàng khác nhau, và trong tương lai sẽ còn nhiều nhóm hàng có nguy cơ bị mượn xuất xứ Việt Nam.
9 tháng đầu năm 2019, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam (VN) vào lĩnh vực chế biến gỗ tương đương cả năm 2018 về số dự án (DA) và tăng 2,3 lần về số vốn đăng ký của cả năm 2018. Đáng chú ý, dẫn đầu danh sách FDI ngành gỗ là Trung Quốc (TQ) khi quốc gia này chiếm tới 40% số DA nhưng số vốn đầu tư chỉ chiếm 23,5%...
Ngày 8/11, tại Hà Nội, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và tổ chức Forest Trends đã phối hợp tổ chức hội thảo 'Thực trạng xuất nhập khẩu và dịch chuyển FDI trong ngành gỗ'. Tại hội thảo, nội dung nhận diện các rủi ro để phát triển bền vững ngành gỗ Việt Nam đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các đại biểu tham dự.
Thu hút đầu tư FDI và nhờ nguồn đầu tư này các ngành có thêm nguồn vốn, phát huy thị trường, mở rộng thị phần, học hỏi về quản lý, công nghệ tiến bộ… Tuy nhiên cần cơ chế kiểm soát chặt chẽ để chất lượng và hiệu quả thu hút nguồn vốn này thực sự có hiệu quả và tránh được gian lận thương mại.
Sáng ngày 8/11, tại Hà Nội, các hiệp hội: Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA), Hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA), Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) và Tổ chức Forest Trends tổ chức Hội thảo 'Thực trạng xuất nhập khẩu và chuyển dịch FDI ngành gỗ'.
Số doanh nghiệp ngành gỗ có vốn đầu tư nước ngoài FDI đăng ký mới trong 9 tháng năm 2019 là 67 dự án, tương đương cả năm 2018, với tổng số vốn đầu tư trên 581 triệu USD...
Các dự án đầu tư nước ngoài (FDI) đã, đang và sẽ tiếp tục là một bộ phận không thể thiếu của ngành gỗ Việt Nam. Tuy nhiên, sự mở rộng khối FDI cũng đặt ra những rủi ro, thách thức đòi hỏi có những cơ chế kiểm soát để phát triển bền vững.
Đối tác trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) của Việt Nam đều thuộc nhóm quốc gia sử dụng công cụ phòng vệ thương mại (PVTM) nhiều nhất trên thế giới, do đó, hàng xuất khẩu Việt Nam có nguy cơ phải chịu các biện pháp PVTM. Đây là cuộc chơi thương mại toàn cầu, đầy cam go và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Theo Báo cáo nghiên cứu về thị trường ngành chế biến gỗ Việt Nam của Tổ chức Forest Trend, 5 tháng đầu năm 2019, số dự án mới có vốn từ nước ngoài (FDI) đầu tư vào ngành gỗ là 49, trong đó có đến 32 dự án thuộc lĩnh vực chế biến gỗ.
Tại thời điểm này, quan điểm của Bộ NN&PTNT là chưa nên xem xét tăng thuế XK dăm gỗ.
Không chỉ hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, việc dịch chuyển đầu tư các dự án có nguồn vốn từ Trung Quốc đang tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam, đặc biệt các DN ngành gỗ…
Nhập khẩu (NK) gỗ nguyên liệu từ châu Phi đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, sẽ là rào cản trong việc đáp ứng các quy định về tính hợp pháp của gỗ trong Hiệp định Đối tác tự nguyện về Thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU).
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, trong số 49 dự án FDI mới đầu tư vào ngành gỗ của 5 tháng đầu năm 2019, có tới 21 dự án của Trung Quốc, tương đương 43% tổng vốn FDI đầu tư vào ngành gỗ.
Khảo sát của Trung tâm WTO và hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy phần lớn các hồ sơ mời thầu thực tế không quan tâm đến tính hợp pháp pháp của gỗ. Điều này cũng xuất phát từ thực tế pháp luật đấu thầu không có quy định cụ thể về vấn đề này…
Trong mua sắm công đang tồn tại số lượng gỗ có rủi ro cao. Đây là thông tin được nêu ra tại Hội thảo 'Tính hợp pháp của sản phẩm gỗ trong mua sắm công ở Việt Nam' do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với các Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, VIFORES, FPA, HAWA và Forest Trends tổ chức ngày 20/6/2019.
Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập nhận định, những năm gần đây, Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt tới ngành gỗ.
Trong thời gian qua, số doanh nghiệp FDI trong ngành gỗ có số lượng tương đối đông đảo. Tuy nhiên, khác biệt tương đối lớn về số lượng và kim ngạch của các doanh nghiệp khối FDI và doanh nghiệp nội địa cho thấy các kết nối giữa hai khối này vẫn còn rất nhiều hạn chế.