Ngày 11/6, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; các nhà sản xuất thép của Trung Quốc tiếp tục xuất khẩu mạnh mẽ, bất chấp nhiều nước áp đặt hạn chế chống bán phá giá và điều tra.
Ngày 10/6, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; giá thép chuẩn trên sàn giao dịch tương lai Thượng Hải cao hơn nhờ giảm bớt lo ngại về nhu cầu của Trung Quốc, đặt cược cắt giảm lãi suất của Fed.
Ngày 8/6, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; quặng sắt mở rộng mức tăng nhờ giảm bớt lo ngại về nhu cầu của Trung Quốc, đặt cược cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).
Ngày 6/6, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; giá quặng sắt chạm mức thấp nhất 7 tuần do nhu cầu thép Trung Quốc yếu đi, đặt cược nguồn cung cao hơn.
Ngày 5/6, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; giá thép chuẩn trên sàn giao dịch tương lai Thượng Hải tiếp tục giảm; quặng sắt giao sau biến động trái chiều.
Sáng nay, giá sắt thép xây dựng tiếp tục giảm trên sàn giao dịch Thượng Hải. Giá quặng sắt cũng trượt xuống mức thấp hơn 6 tuần trong bối cảnh nhu cầu của Trung Quốc suy yếu. Trong nước, giá sắt thép các loại vẫn được các doanh nghiệp duy trì ở mốc ổn định.
Ngày 4/6, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; Quặng sắt, giá thép cây trên sàn giao dịch trượt xuống mức thấp hơn hai tuần trong bối cảnh nhu cầu của Trung Quốc suy yếu.
Ngày 1/6, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; giá quặng sắt kỳ hạn tại Đại Liên tiếp tục giảm do nhu cầu ngắn hạn yếu đi và dữ liệu nhà máy ảm đạm tại quốc gia tiêu thụ hàng đầu Trung Quốc đè nặng lên tâm lý thị trường.
Ngày 31/5, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; giá quặng sắt kỳ hạn giảm do lo ngại nhu cầu giảm tại nước tiêu dùng hàng đầu Trung Quốc tiếp tục kiểm soát sản lượng thép thô vào năm 2024.
Ngày 30/5, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; giá quặng sắt kỳ hạn kéo dài mức giảm sang phiên thứ ba liên tiếp, do các yếu tố cơ bản suy yếu.
Ngày 29/5, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; giá quặng sắt kỳ hạn phục hồi do việc nới lỏng quy định mua nhà tại Thượng Hải đã thúc đẩy tâm lý nhà đầu tư và triển vọng nhu cầu sáng sủa hơn.
Ngày 28/5, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 17 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 27/5, thị trường trong nước tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 1 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 10/2024.
Ngày 25/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 4 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 24/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 4 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 23/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 17 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 3/2025.
Nhóm kim loại mở rộng đà tăng trong suốt gần 2 tuần trở lại đây. Kết thúc ngày 20/5, ngoại trừ bạch kim, tất cả 10 mặt hàng còn lại đều tăng giá.
Theo Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam (MXV), giao dịch ngày 20-5, 25/31 mặt hàng nguyên liệu đồng loạt tăng giá, hỗ trợ chỉ số hàng hóa MXV-Index chốt ngày tăng mạnh 1,33% lên 2.376 điểm.
Theo Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), đóng cửa ngày giao dịch đầu tuần (20/5), có đến 25 trên tổng số 31 mặt hàng nguyên liệu đồng loạt tăng giá, hỗ trợ chỉ số hàng hóa MXV-Index chốt ngày tăng mạnh 1,33% lên 2.376 điểm.
Ngày 21/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 14 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 20/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 17 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 10/2024.
Ngày 18/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 18 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 17/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 65 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 17/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 65 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 16/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 2 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 15/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 33 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 14/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 14 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 13/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 10 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 11/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 0,3%..
Ngày 10/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 4 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 1/2025.
Nhu cầu xây dựng từ dân dụng tới đầu tư công đang đem lại sự khởi sắc trở lại đối với ngành thép. Tốc độ bán hàng tại các đại lý đã cải thiện hơn so với thời điểm vài tháng trước đây.
Ngày 9/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 17 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 1/2025.
Giá vàng SJC ổn định ở mốc trên 87,5 triệu đồng/lượng; Giá cà phê trong nước tụt thảm; Điều tra chống bán phá giá thép mạ nhập khẩu...là thông tin thị trường ngày hôm nay (9/5).
Ngày 8/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 9 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 1/2025.
Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam cho biết, ngày giao dịch đầu tuần 6-5, chỉ số hàng hóa MXV-Index tăng gần 1%, lên 2.288 điểm. Trong đó, giá lúa mì chạm mốc cao nhất từ cuối 2023.
Kết thúc ngày giao dịch đầu tuần 6/5, sắc xanh áp đảo trên bảng giá kim loại. Đối với kim loại quý, giá các mặt hàng được hỗ trợ nhờ phát huy vai trò trú ẩn an toàn khi xung đột ở Trung Đông diễn biến căng thẳng đồng thời áp lực vĩ mô cho thấy tín hiệu hạ nhiệt.
Ngày 7/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 23 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 1/2025.
Ngày 6/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; còn trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 3 Nhân dân tệ với hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 1/2025.
Ngày 4/5, thị trường thép nội địa và trên sàn giao dịch Thượng Hải không biến động. Trong khi đó, Nippon Steel trì hoãn việc mua lại US Steel cho đến cuối năm nay.
Ngày 3/5, thị trường thép nội địa và trên sàn giao dịch Thượng Hải không biến động.
Ngày 2/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 1 Nhân dân tệ với hợp đồng thép kỳ hạn tháng 2/2025.
Giá sắt thép xây dựng Trung Quốc hôm nay (1/5) giảm về mức thấp nhất 2 tuần qua. Trong khi đó, thị trường thép trong nước dự báo triển vọng tích cực.
Ngày 1/5, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 14 Nhân dân tệ với hợp đồng thép kỳ hạn tháng 10/2024.
Ngày 30/4, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 19 Nhân dân tệ với hợp đồng thép kỳ hạn tháng 10/2024.
Sáng nay, giá sắt thép tăng nhẹ trên Sàn giao dịch Thượng Hải. Trong nước, sau thời gian duy trì ổn định, các doanh nghiệp đồng loạt điều chỉnh tăng với mặt hàng thép CB240 và D10 CB300.
Ngày 29/4, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 7 Nhân dân tệ với hợp đồng thép kỳ hạn tháng 2/2025.
Ngày 27/4, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 3 Nhân dân tệ với hợp đồng thép kỳ hạn tháng 10/2024.
Giá thép hôm nay tại thị trường trong nước duy trì ổn định. Đáng chú ý, xuất khẩu thép của Trung Quốc trong tháng 3/2024 đã chạm mức cao nhất gần 8 năm trở lại đây.
Ngày 26/4, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; trên sàn giao dịch Thượng Hải giảm 30 Nhân dân tệ với hợp đồng thép kỳ hạn tháng 10/2024.
Giá thép hôm nay tại thị trường trong nước duy trì ổn định. Đáng chú ý, giá quặng sắt bật tăng trở lại lên mức cao nhất trong 6 tuần.
Ngày 25/4, thị trường thép nội địa tiếp tục bình ổn; trên sàn giao dịch Thượng Hải tăng 9 Nhân dân tệ với hợp đồng thép kỳ hạn tháng 10/2024.