Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Theo các chuyên gia, phát triển đồng bộ thị trường vốn là điều kiện quan trọng để đa dạng hóa nguồn lực, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững.
Tín dụng toàn nền kinh tế tăng gần 8% sau hơn nửa đầu năm 2026, tương đương khoảng 1,46 triệu tỷ đồng. Các chuyên gia cho rằng cần sớm phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào ngân hàng.
Thị trường vốn được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn chủ lực, giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.
Theo các chuyên gia, cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế.
Để đáp ứng bài toán vốn dài hạn, Việt Nam cần nâng cao năng lực thực thi, phát triển các kênh dẫn vốn mới và đẩy nhanh vận hành Trung tâm tài chính tại Tp.HCM.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng đã ở mức cao, các chuyên gia cho rằng phát triển thị trường vốn là giải pháp quan trọng nhằm đa dạng hóa nguồn lực và đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào các tổ chức tín dụng, trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển.
Nhu cầu vốn cho hạ tầng, năng lượng ngày càng lớn, trong khi hệ thống ngân hàng chịu áp lực cung ứng vốn. Theo các chuyên gia, cần phát triển đồng bộ thị trường vốn để giảm phụ thuộc tín dụng và tạo nguồn lực tăng trưởng bền vững.
Nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đang tăng mạnh, trong khi dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng ngày càng thu hẹp. Giải pháp then chốt để hình thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn bền vững cho nền kinh tế là phát triển đồng bộ thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán.
Theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi lượng vốn lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy. Vì vậy, để phát triển thị trường tài chính cần dựa trên 3 nền tảng cốt lõi: Thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, kỷ luật thị trường nghiêm minh.
Theo TS. Cấn Văn Lực, với tốc độ như hiện nay tỷ lệ tín dụng/GDP có thể lên tới 180% vào năm 2030, tín hiệu được xem là rất rủi ro. Vì vậy, giải pháp cần phải gia tăng sự đóng góp của thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư) lên gấp 1,5 đến 1,7 lần, tức đóng góp khoảng 25 - 27% thì mới đảm bảo cân bằng và bền vững.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số và có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 đòi hỏi không chỉ mở rộng nguồn lực tài chính mà còn nâng khả năng tiếp nhận, sử dụng vốn. Khi phần lớn doanh nghiệp còn ở quy mô nhỏ, lợi nhuận mỏng, khó tìm kiếm khách hàng, công nghệ hạn chế, dòng vốn chỉ phát huy hiệu quả nếu đi cùng cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, dữ liệu và năng lực doanh nghiệp.
Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, thị trường cần phát triển thêm các kênh vốn trung và dài hạn như trái phiếu, REIT, M&A, đồng thời tháo gỡ pháp lý để dòng tiền vào đúng dự án.
Sự dịch chuyển này khiến ngành chứng khoán ngày càng giống một cuộc đua về năng lực quản trị vốn hơn là cuộc cạnh tranh về quy mô môi giới.
Trong bối cảnh huy động vốn tại các ngân hàng thương mại có xu hướng thấp hơn tăng trưởng tín dụng, tiềm ẩn rủi ro thanh khoản thì việc bổ sung thêm vốn cho nền kinh tế cần được chuyển dần sang kênh thị trường chứng khoán (TTCK). Để tạo thuận lợi trong huy động vốn trên sàn chứng khoán, cần thúc đẩy phát triển các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng hàng hóa và mở rộng hơn nữa khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với dòng vốn trong và ngoài nước.
Trong bối cảnh ngân hàng thương mại không còn dư dả vốn vay, cần giải pháp huy động vốn thay thế để kích hoạt các dự án lớn và thúc đẩy tăng trưởng hai con số.
Tài chính xanh không chỉ là một xu hướng mà đã trở thành động lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển dài hạn của quốc gia. Các chính sách tài chính xanh được kỳ vọng sẽ tạo ra những cơ hội mới cho doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế....
HNN - Dù dòng vốn tín dụng xanh không thiếu, doanh nghiệp (DN) vẫn khó tiếp cận do thiếu cơ chế đánh giá và năng lực quản trị chưa đạt chuẩn. Việc thay đổi tư duy tiếp cận vốn, chủ động minh bạch hóa dữ liệu được xem là chìa khóa để DN tháo gỡ nút thắt tài chính, hiện thực hóa lộ trình kinh doanh bền vững.
Thị trường vốn, đặc biệt là cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp sẽ giữ vai trò trung tâm trong huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Dư nợ tín dụng xanh của hệ thống ngân hàng đã đạt khoảng 828.000 tỷ đồng, nhưng lĩnh vực xây dựng chỉ nhận được 24.200 tỷ đồng, tương đương chưa đầy 3%. Khoảng cách giữa nhu cầu chuyển đổi và dòng vốn đang trở thành một trong những nút thắt lớn nhất của thị trường xây dựng xanh.
Việt Nam đang bước vào chương trình đầu tư hạ tầng lớn nhất trong lịch sử với nhu cầu vốn lên tới gần 1.500 tỷ USD trong 5 năm tới.
Trong 6 tháng đầu năm, giải ngân vốn đầu tư công mới đạt trên 35%, áp lực lên hệ thống tín dụng là rất lớn bởi thị trường vốn chưa thực sự phát triển.
Các chuyên gia cho rằng tái cấu trúc thị trường vốn, phát triển mạnh kênh huy động vốn trung và dài hạn là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số và phát triển bền vững...
Tín dụng đã ở mức cao trong khi nhu cầu vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới ngày càng lớn. Vì vậy, việc tái cấu trúc các kênh dẫn vốn, phát triển thị trường chứng khoán và trái phiếu đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 lên tới khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi ngân sách chỉ đáp ứng khoảng 20%, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc các kênh dẫn vốn.
Mặc dù chiếm gần 98% số doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ chiếm 20% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế, vẫn đang đối mặt với bài toán thiếu vốn kéo dài.
Để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, Việt Nam không chỉ phải giải quyết bài toán về năng lực sản xuất hay cải cách thể chế, mà còn phải tìm cách huy động và phân bổ nguồn lực tài chính với quy mô chưa từng có….
Theo các chuyên gia của SSI, câu hỏi không còn là Việt Nam có thể tăng trưởng nhanh hơn hay không mà là những nguồn lực hiện có đã được đưa vào nền kinh tế đúng tốc độ hay chưa.
Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư hạ tầng ngày càng lớn và nguồn lực công có hạn, việc huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội trở thành yêu cầu cấp thiết. Mô hình PPP++ hướng tới mục tiêu kết nối nguồn lực, chia sẻ trách nhiệm và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Tổng dư nợ tín dụng xanh tính đến quý 1/2026 đạt 828.000 tỷ đồng, tăng gấp 4,6 lần so với năm 2017. Tuy tăng trưởng đều nhưng tín dụng xanh mới chỉ chiếm 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, HSBC dẫn số liệu từ Ngân hàng Nhà nước.
Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển khi mới chiếm 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế. Theo đại diện HSBC Việt Nam, trước bài toán xanh, doanh nghiệp có thể tiếp cận đa dạng công cụ tài chính để 'xanh hóa' hoạt động thường nhật, thay vì phải chờ một dự án lớn hoặc một khoản vay dài hạn mới có thể tiếp cận nguồn vốn.
Tín dụng xanh đã tăng nhanh trong những năm gần đây, nhưng mới chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Để dòng vốn này thực sự đi vào khu vực sản xuất, kinh doanh, bên cạnh nguồn lực tài chính và giải pháp phù hợp, doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị dữ liệu, phương án tài chính và cam kết minh bạch, qua đó biến nhu cầu 'xanh hóa' thành những dự án có thể cấp vốn.
Theo HSBC Việt Nam, để dòng vốn xanh thực sự chảy vào nền kinh tế, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch chuyển đổi khả thi, chuẩn hóa dữ liệu và sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính bền vững.
Dư nợ tín dụng xanh đã tăng gấp 4,6 lần sau bảy năm nhưng mới chiếm 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế, và phần dư địa còn lại chỉ mở ra khi doanh nghiệp chọn đúng công cụ vốn cho từng nhu cầu…
Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng đã đảm nhận phần lớn chức năng dẫn vốn của nền kinh tế. Khi thị trường vốn còn non trẻ, các định chế đầu tư dài hạn chưa hình thành đầy đủ, quỹ hưu trí còn nhỏ, bảo hiểm chưa đủ lớn, còn thị trường trái phiếu doanh nghiệp nhiều giai đoạn vận hành thiếu ổn định, thì bảng cân đối của ngân hàng trở thành nơi hội tụ tự nhiên của rất nhiều nhu cầu vốn khác nhau.Nhìn một cách công bằng, đó là một thành công đáng kể. Không nhiều nền kinh tế có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài nếu thiếu một hệ thống trung gian tài chính đủ năng lực để huy động tiết kiệm và phân bổ lại ở quy mô lớn. Nhưng cũng chính tại điểm mà một mô hình đã vận hành hiệu quả trong thời gian dài, các giới hạn cấu trúc của nó bắt đầu hiện ra rõ hơn.
Việt Nam đang thiếu một định chế tài chính có khả năng tham gia huy động, tập trung và dẫn dắt các nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Việt Nam vừa thăng hạng lên nhóm nền kinh tế có thu nhập trung bình cao, đồng nghĩa nguồn vốn ODA ưu đãi sẽ thu hẹp dần. Để đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050, ngân sách và dòng vốn doanh nghiệp là không đủ. Việc khơi thông hệ sinh thái tài chính bán lẻ xanh từ hàng triệu hộ gia đình đang trở thành mắt xích quyết định để định hình chiến lược phát triển bền vững quốc gia.
Theo các chuyên gia của Đại học RMIT Việt Nam, các lựa chọn tài chính cá nhân, từ vay thế chấp đến gửi tiết kiệm, đều có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững nếu tài chính bán lẻ xanh được triển khai trên diện rộng.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra nhu cầu vốn rất lớn cho đầu tư phát triển. Trong bối cảnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là trái phiếu hạ tầng PPP, được định hướng trở thành kênh dẫn vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế.
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Theo đó, Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng đặt mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm. Hệ thống ngân hàng Việt Nam vì thế cũng đang bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.
Theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn ESG (môi trường – xã hội – quản trị) đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng Nhà nước đang hoàn thiện chính sách hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân vay vốn thực hiện các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn.
Dù tín dụng xanh tăng trưởng hơn 20% mỗi năm nhưng nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn này.
Dư nợ tín dụng xanh đã tăng gấp 4,6 lần sau gần một thập kỷ triển khai, nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ cũng từng bước được hoàn thiện. Tuy nhiên, những vướng mắc về tiêu chí dự án xanh, dữ liệu môi trường và năng lực đáp ứng các yêu cầu ESG của doanh nghiệp vẫn đang ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
Trong khuôn khổ chuỗi sự kiện 'Ngày Chuyển đổi xanh 2026', chiều 23/6, Báo Lao Động phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo 'Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh, động lực cho tăng trưởng kinh tế'.
Gần 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa từng có lịch sử tiếp cận tín dụng ngân hàng, khó khăn càng lớn hơn khi doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn xanh. Khác với tín dụng thông thường, tín dụng xanh đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn về môi trường, quản trị và phát triển bền vững.