Việt Nam đã hình thành nền tảng pháp lý cho kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, song doanh nghiệp vẫn gặp khó về vốn, tiêu chí, thủ tục và sự liên thông chính sách.
Nhu cầu vốn trung và dài hạn đang tăng nhanh hơn tín dụng ngắn hạn, trong khi hàng loạt chính sách mới tiếp tục mở thêm dư địa để ngân hàng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, khi tín dụng vẫn chiếm hơn một nửa tổng nguồn vốn và phần lớn tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn ngắn, phát triển thị trường vốn trở thành yêu cầu cấp thiết để san sẻ gánh nặng tài trợ dài hạn cho hệ thống ngân hàng.
Tiếp cận nguồn vốn cho các dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vẫn là bài toán không dễ dàng đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ông Đỗ Đình Nhu – Phó Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) sẽ chia sẻ góc nhìn thực tế giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng xanh.
Hàng loạt dự án hạ tầng, đô thị, hàng không, đường sắt và chuyển đổi xanh đang đặt ra nhu cầu vốn dài hạn rất lớn. Trong bối cảnh nguồn lực trong nước có giới hạn, việc mở rộng các kênh huy động và đưa dòng vốn quốc tế vào nền kinh tế ngày càng trở nên cấp thiết.
Muốn hút dòng vốn toàn cầu không chỉ cần thể chế cạnh tranh, hai trung tâm tài chính ở TP.HCM và Đà Nẵng còn phải xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch, chuẩn hóa và đáng tin cậy.
Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế giai đoạn 2026-2030 được dự báo rất lớn, trong khi tín dụng ngân hàng đang chịu sức ép về nguồn vốn và giới hạn về khả năng cung ứng vốn trung, dài hạn. Trong bối cảnh đó, thị trường vốn, gồm thị trường cổ phiếu và trái phiếu, cần phát huy mạnh hơn vai trò huy động, phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế.
Nhiều ngân hàng Việt Nam đang đồng loạt triển khai các kế hoạch huy động vốn quốc tế và tìm kiếm nhà đầu tư nước ngoài. Dòng vốn này được kỳ vọng không chỉ giúp bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng tín dụng, mà còn có thể tạo ra những thay đổi đáng kể về cấu trúc tài chính, quản trị rủi ro và năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Nhiều ngân hàng bắt đầu đo lượng phát thải gắn với danh mục cho vay, đưa mức tác động môi trường vào khẩu vị rủi ro, hạn mức ngành và quy trình thẩm định. Việc quản trị carbon đang từng bước tác động đến cách ngân hàng lựa chọn và phân bổ vốn.
Nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh của Việt Nam lên tới hàng trăm tỷ USD, trong khi nguồn lực quốc tế được đánh giá không thiếu. Bài toán đặt ra là nâng khả năng hấp thụ vốn, chuẩn hóa dự án và hoàn thiện các kênh dẫn vốn để kết nối nguồn lực toàn cầu với những dự án xanh trong nước.
Thị trường tài chính quốc tế đang trở thành một kênh huy động vốn có tầm quan trọng đặc biệt đối với các ngân hàng Việt Nam khi hàng loạt thương vụ trị giá từ hàng chục triệu đến hàng tỷ USD liên tiếp được thực hiện thành công.
Nhiều ngân hàng Việt Nam liên tiếp ký các khoản vay hợp vốn, tín dụng xanh và phát hành trái phiếu quốc tế với quy mô cả tỷ USD.
Cùng với cải cách thị trường tài chính, nâng cao năng lực tiếp cận và hấp thụ vốn là điều kiện quan trọng để biến nguồn lực thành tăng trưởng bền vững.
Khả năng chuyển đổi nguồn tiết kiệm dài hạn thành vốn cho hạ tầng, công nghệ và chuyển đổi xanh mới quyết định liệu cải cách tài chính có thể hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đến năm 2045.
Nhu cầu vốn tăng mạnh khi doanh nghiệp đồng thời phải duy trì sản xuất, mở rộng dự án, chuyển đổi số và đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Trong khi lãi vay bằng đồng Việt Nam khó giảm nhanh, bài toán của TP Hồ Chí Minh không chỉ là tăng lượng tiền đưa ra nền kinh tế mà còn phải đưa vốn đến đúng doanh nghiệp, đa dạng kênh huy động và chuẩn hóa dự án để tiếp cận nguồn lực dài hạn trong nước, quốc tế.
Chia sẻ với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Ratings cho rằng, việc phát triển thị trường trái phiếu theo hướng mở rộng quy mô, nâng cao tính minh bạch và hoàn thiện hạ tầng sẽ góp phần nâng cao vai trò cung ứng nguồn vốn trung, dài hạn, hướng tới cân bằng hơn trong vai trò dẫn vốn với hệ thống ngân hàng.
Nếu vốn xanh đã sẵn sàng, thách thức của Việt Nam là tạo ra những dự án đủ tốt, hấp dẫn và minh bạch để hút vốn.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới, Việt Nam cần một lượng vốn đầu tư rất lớn. Theo tính toán, riêng năm 2026, để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội ước khoảng 5,1 triệu tỷ đồng. Trong cả giai đoạn 2026-2030, con số này dự kiến lên tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Quy mô vốn ngày càng lớn đặt ra yêu cầu phải xây dựng một cấu trúc thị trường tài chính cân bằng và bền vững hơn, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng.
Nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp ngày càng gia tăng. Từ các hộ kinh doanh cá thể đến doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng kịp thời đã trở thành một trong những điều kiện quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Bám sát chủ trương của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và định hướng phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh Thọ Xuân Thanh Hóa (Agribank Thọ Xuân) đã triển khai nhiều giải pháp tín dụng phù hợp, đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng trên địa bàn hoạt động của đơn vị.
Nam Á Group hướng tới xây dựng hệ sinh thái đa ngành, định vị vai trò cầu nối giữa nhà đầu tư, doanh nghiệp và các nguồn lực phát triển, tăng trưởng bền vững.
Việt Nam cần khoảng 670-700 tỷ USD để thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, song rào cản lớn nhất hiện nay không phải thiếu vốn mà là thiếu các dự án đủ tiêu chuẩn để thu hút dòng tiền quốc tế.
Khoảng cách giữa nhu cầu vốn xanh và các dự án đủ điều kiện huy động vốn đòi hỏi thị trường phải được hoàn thiện đồng bộ từ tiêu chuẩn, dữ liệu, cơ chế đánh giá đến hạ tầng giao dịch nhằm khơi thông hiệu quả dòng vốn xanh.
Việt Nam cần khoảng 700 tỷ USD để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng '0' (Net Zero) vào năm 2050.
Các chuyên gia cho rằng, điều Việt Nam thiếu không hẳn là vốn xanh, mà là khả năng biến các dự án thành những tài sản đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư. Từ pháp lý, dữ liệu ESG, cơ chế chia sẻ rủi ro đến các sản phẩm tài chính và thị trường thứ cấp, tất cả đang tạo nên "hạ tầng tài chính" quyết định khả năng hấp thụ dòng vốn xanh trong giai đoạn tới.
Việt Nam cần khoảng 700 tỷ USD để hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng '0' vào năm 2050. Trong bối cảnh dòng vốn xanh toàn cầu vẫn dồi dào, thách thức đặt ra không chỉ là thu hút nguồn vốn, mà còn là xây dựng hạ tầng thị trường đủ minh bạch, đồng bộ để kết nối các nhà đầu tư quốc tế với những dự án xanh có chất lượng.
Để huy động khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư cho chuyển đổi khí hậu đến năm 2040, Việt Nam cần mở rộng hệ sinh thái tài chính bền vững thay vì chỉ dựa vào trái phiếu xanh. Đây là khuyến nghị của chuyên gia đến từ Tổ chức Tài chính quốc tế tại Hội nghị Tài chính Xanh Việt Nam 2026.
Nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh đang mở ra cơ hội thu hút các dòng vốn quốc tế. Trong quá trình đó, hệ thống ngân hàng được kỳ vọng giữ vai trò kết nối nhà đầu tư, chuẩn hóa dự án và đưa dòng vốn xanh đến nền kinh tế thực.
Sự gia tăng liên tục của dòng tiền gửi dân cư tạo nền tảng cho các ngân hàng mở rộng tín dụng thời gian qua. Tuy nhiên, áp lực huy động vốn vẫn rất lớn khi tốc độ tăng trưởng tín dụng đang vượt tăng trưởng huy động.
Nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn, trong khi các công cụ tài chính mới như chứng khoán chưa phát huy. Nguyên nhân do chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp (MBS) còn những khoảng trống lớn.
Xanh Việt Nam 2026, dự kiến diễn ra ngày 6/8 tại TP.HCM, quy tụ hơn 200 đại diện cơ quan quản lý, định chế tài chính, nhà đầu tư, tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp, nhằm thúc đẩy kết nối dòng vốn với các dự án xanh tại Việt Nam.
Dòng vốn xanh toàn cầu đang tăng trưởng mạnh, song việc chuyển hóa nguồn lực này thành vốn đầu tư cho các dự án phát triển bền vững vẫn là bài toán lớn đối với Việt Nam. Trong bối cảnh mục tiêu phát thải ròng bằng '0' vào năm 2050 đòi hỏi nhu cầu vốn rất lớn, việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính xanh đủ tiêu chuẩn quốc tế được xem là điều kiện quan trọng để nâng cao khả năng tiếp cận dòng vốn toàn cầu.
Một trong những nội dung quan trọng của 'Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045' (gọi tắt là Đề án) vừa được Chính phủ phê duyệt là chuyển dịch cơ cấu nhà đầu tư từ cá nhân sang tổ chức, trong đó ưu tiên phát triển nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính.
Ngân hàng vẫn giữ vai trò trung tâm của hệ thống tài chính nhưng thị trường vốn sẽ từng bước chia sẻ chức năng cung ứng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế.
Nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư đang tăng mạnh trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao.
Hàng loạt khoản vay hợp vốn, vốn xanh và vốn liên kết bền vững trị giá hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD đang được các ngân hàng Việt Nam huy động từ thị trường quốc tế. Dòng vốn này không chỉ bổ sung nguồn lực trung, dài hạn, giảm áp lực lên huy động trong nước mà còn hỗ trợ mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài chính xanh, tài chính toàn diện.
Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, trong khi tín dụng ngân hàng đã tương đương khoảng 145-146% GDP và nguồn huy động chủ yếu vẫn là ngắn hạn. Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam mở ra kỳ vọng tái cấu trúc hệ dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn, để thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bảo hiểm và các quỹ đầu tư thực sự 'chia lửa' với ngân hàng.
Tổng giám đốc VinaCapital cho rằng thách thức lớn nhất không phải việc tìm kiếm thêm nguồn lực tài chính mà là nâng cao hiệu quả phân bổ vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Một cuộc đại cải cách mang tính bước ngoặt khi Chính phủ chính thức xác lập lộ trình tái cấu trúc toàn diện hệ thống tài chính quốc gia đang bị 'nghẽn' do phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng.
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng đầu tư tại Chứng khoán An Bình cho rằng khác biệt giữa các doanh nghiệp không nằm ở nhu cầu vốn mà ở mức chủ động chuẩn bị cho những chu kỳ thay đổi của thị trường.
Nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp ngày càng lớn vì vậy việc phát triển thêm công cụ kết nối thị trường tín dụng với thị trường vốn được kỳ vọng giúp dòng tiền lưu chuyển hiệu quả hơn, mở rộng nguồn lực mới.
Theo nhiều doanh nghiệp, để đáp ứng yêu cầu giảm phát thải và chuyển đổi mô hình sản xuất, rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là nguồn lực tài chính để đầu tư công nghệ, đổi mới dây chuyền và xây dựng hệ thống quản trị đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Theo Chủ tịch FiinGroup, việc nâng hạng tín nhiệm quốc gia lại có thể làm giảm chi phí vốn của cả nền kinh tế, từ Chính phủ, doanh nghiệp đến hệ thống ngân hàng.
Dòng vốn mở rộng nhanh hơn nguồn cung tài sản xanh, điểm nghẽn của thị trường chuyển từ huy động vốn sang tạo ra dự án đủ điều kiện để hấp thụ dòng tiền.
Áp lực huy động vốn cho chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng, trong khi quy mô nguồn lực chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Những khoảng trống trong chuẩn hóa và kiểm chứng dữ liệu đang trở thành điểm nghẽn, ảnh hưởng khả năng dẫn dắt và phân bổ hiệu quả dòng vốn trên thị trường tài chính xanh...
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần mở rộng các 'kênh dẫn vốn' bên cạnh tín dụng ngân hàng, từ thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp đến các quỹ đầu tư và trung tâm tài chính quốc tế. Đây là nhận định được nhiều chuyên gia tại Hội thảo 'Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn' do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức.
Tính đến giữa tháng 7 năm 2026, hệ thống ngân hàng đã nỗ lực cung ứng thêm cho nền kinh tế một lượng vốn khổng lồ lên tới 1,46 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này vẫn còn khoảng cách rất xa so với nhu cầu đầu tư dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng của toàn xã hội trong năm nay.
Tín dụng xanh đang từng bước trở thành một trong những kênh vốn quan trọng cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.
Trước nhu cầu vốn để tăng trưởng 2 con số, nếu chỉ trông chờ nguồn vốn từ kênh tín dụng trong nước là không đủ. Làm thế nào để phát huy các kênh huy động vốn dài hạn từ trong và ngoài nước là bài toán cần lời giải?.
Để duy trì tăng trưởng trên 10% trong nhiều năm, Việt Nam cần một cấu trúc dẫn vốn cân bằng hơn để cung ứng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế.
Thị trường vốn là yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030.
Nhu cầu vốn để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 lên tới hàng chục triệu tỷ đồng, nhưng nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Theo các chuyên gia, phát triển đồng bộ thị trường vốn là giải pháp then chốt để bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Để đáp ứng nhu cầu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục phát triển đồng bộ thị trường vốn, mở rộng các kênh huy động trung và dài hạn, qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế.
Kinh tế Việt Nam tăng trưởng hơn 8%, tín dụng đã được bơm thêm gần 1,46 triệu tỷ đồng chỉ trong hơn nửa đầu năm nay. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán lại diễn biến kém tích cực. Nghịch lý của nền kinh tế được các chuyên gia chỉ ra, là tăng trưởng vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa đủ lớn để trở thành kênh dẫn vốn dài hạn.
Nhu cầu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu phải mở thêm các kênh huy động vốn mới, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực đầu tư ở quy mô rất lớn. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu và ngày càng chịu nhiều sức ép, phát triển đồng bộ thị trường vốn trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm tái cân bằng hệ thống tài chính, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tạo động lực cho tăng trưởng bền vững.
Nếu khu công nghiệp xanh là lợi thế cạnh tranh mới, thì nguồn lực tài chính sẽ quyết định tốc độ chuyển đổi. TP Hồ Chí Minh đang hướng tới xây dựng mô hình tài chính kết nối dòng vốn với các kết quả giảm phát thải có thể đo lường, đưa mục tiêu Net Zero thành các dự án có khả năng huy động vốn và vận hành theo cơ chế thị trường.
Để duy trì mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong 5 năm. Khi dư địa tín dụng ngân hàng ngày càng thu hẹp, thị trường vốn được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô thị trường mà còn là hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và khôi phục niềm tin của nhà đầu tư.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Theo các chuyên gia, phát triển đồng bộ thị trường vốn là điều kiện quan trọng để đa dạng hóa nguồn lực, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững.
Tín dụng toàn nền kinh tế tăng gần 8% sau hơn nửa đầu năm 2026, tương đương khoảng 1,46 triệu tỷ đồng. Các chuyên gia cho rằng cần sớm phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào ngân hàng.
Thị trường vốn được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn chủ lực, giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.
Theo các chuyên gia, cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế.
Để đáp ứng bài toán vốn dài hạn, Việt Nam cần nâng cao năng lực thực thi, phát triển các kênh dẫn vốn mới và đẩy nhanh vận hành Trung tâm tài chính tại Tp.HCM.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng đã ở mức cao, các chuyên gia cho rằng phát triển thị trường vốn là giải pháp quan trọng nhằm đa dạng hóa nguồn lực và đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào các tổ chức tín dụng, trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển.