Cần những giải pháp mới và mạnh nhằm khai thác hiệu quả CPTPP
Sau hai năm Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực, hoạt động xuất, nhập khẩu đã có những khởi sắc, đóng góp cho tăng trưởng chung. Song theo bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất, nhập khẩu (Bộ Công Thương), dư địa của thị trường CPTPP còn rất lớn, do đó chúng ta cần những giải pháp mới và mạnh hơn nữa để khai thác hiệu quả hiệp định này.

Bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất, nhập khẩu (Bộ Công Thương)
- Bà đánh giá như thế nào về kết quả sau hai năm thực thi CPTPP đối với hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam?
- Có thể khẳng định, CPTPP có hiệu lực đã góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang 10 thị trường thành viên CPTPP. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các nước này đều tăng trưởng mạnh. Tỷ trọng xuất khẩu sang những thị trường này trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung là 12,02% trong năm 2018, 13% trong năm 2019 và 12,02% trong năm 2020.
Tính riêng 6 nước đã phê chuẩn CPTPP, năm 2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 34 tỷ USD, duy trì ở mức gần tương đương năm 2019.
Đặc biệt, với Mexico và Canada, là hai nước lần đầu tiên Việt Nam có hiệp định thương mại, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao. Năm 2020, xuất khẩu sang Canada đạt gần 4,4 tỷ USD, tăng 12%; trong khi xuất khẩu sang Mexico đạt 3,1 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2019.
Ngoài việc giúp doanh nghiệp tăng kim ngạch xuất khẩu, CPTPP còn là động lực để cải thiện môi trường kinh doanh, đặc biệt tạo sức ép về cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải nâng cao tiêu chuẩn hàng hóa và năng lực của mình.
- Vậy những điểm còn hạn chế là gì, thưa bà?
- Thiếu nhân công tay nghề cao, phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các nước khác ngoài CPTPP, một số sản phẩm nông, thủy sản chưa bảo đảm được yếu tố chất lượng… là hạn chế có thể thấy rõ ở nhiều doanh nghiệp trong nước khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường CPTPP.
Nhưng đáng ngại hơn là vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa hiểu hết ý nghĩa của các cam kết trong từng ngành hàng, mặt hàng, thậm chí cả những mặt hàng mà doanh nghiệp đang quan tâm và sản xuất.
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp cũng có những hạn chế về mặt tiếp cận thị trường, xúc tiến thương mại. Đáng nói là hoạt động xúc tiến thương mại trong thời gian vừa qua bị ảnh hưởng rất nhiều bởi dịch Covid-19, tuy Bộ Công Thương đã tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc tổ chức hoạt động kết nối giao thương trực tuyến.
- Hàng hóa của Việt Nam đã xuất khẩu nhiều hơn tới thị trường các nước trong khối CPTPP nhưng dư địa của thị trường này vẫn còn rất lớn. Bà có thể nói rõ hơn về vấn đề này?
- Tuy đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu, song so sánh với mặt bằng chung và lợi ích từ CPTPP thì chưa như mong muốn. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đi 10 thị trường CPTPP năm 2019 đạt 7,2%, thấp hơn so với mức 8,4% tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Bên cạnh đó, thị phần hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại các nước đối tác CPTPP còn thấp. Theo số liệu của Trade Map (Bản đồ thông tin thương mại), năm 2019, hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam mới chiếm 3,1% trong tổng nhập khẩu của Nhật Bản, chiếm 1,9% ở Australia, 1,6% ở New Zealand, 1,3% ở Mexico và mới chỉ chiếm 1,1% ở thị trường Canada. Như vậy, dư địa để doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu tới khối thị trường CPTPP là rất tiềm năng.

Mặt hàng thủy sản được kỳ vọng xuất khẩu mạnh sang thị trường các nước CPTPP.
- Thời gian tới chúng ta cần làm gì để đẩy mạnh xuất khẩu tới các thị trường còn nhiều tiềm năng của CPTPP, thưa bà?
- Để CPTPP đem lại hiệu quả cao hơn, chúng ta cần những giải pháp mới và mạnh hơn nữa. Đối với các các bộ, ngành, cơ quan chức năng, cần xây dựng, sửa đổi những văn bản pháp luật liên quan; đặc biệt, cần thông tin, truyền thông về CPTPP một cách chuyên sâu, theo ngành, lĩnh vực và thị trường trọng điểm.
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, đẩy mạnh đầu tư sản xuất nguyên, phụ liệu đáp ứng quy tắc xuất xứ. Chúng ta cũng cần có giải pháp tiết giảm chi phí ngoài sản xuất, nhất là các chi phí logistics.
Đối với các doanh nghiệp, cần chủ động tìm hiểu các cơ hội ưu đãi, cải thiện năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp cần chú ý nghiên cứu kỹ thị trường, tìm hiểu kỹ thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Và quan trọng hơn, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, lấy sức ép về cạnh tranh là động lực để đổi mới và phát triển.
- Trân trọng cảm ơn bà!











