Tạo lực đẩy cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
Chuyển đổi số (CĐS) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) đang trở thành động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) và sức bật của nền kinh tế. Tuy nhiên, mức độ tham gia của DN Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, đòi hỏi phải tháo gỡ các điểm nghẽn, đồng thời có chính sách hỗ trợ phù hợp để tạo lực đẩy cho DN tăng tốc đổi mới.

ĐMST và CĐS giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của DN. Ảnh minh họa: VGP
Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp còn hạn chế
CĐS và ĐMST đang trở thành những trụ cột quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế của Việt Nam. Với mục tiêu kinh tế số đóng góp 30% GDP vào năm 2030, năng lực đổi mới và ứng dụng công nghệ của khu vực DN tư nhân - lực lượng chiếm hơn 95% tổng số DN cả nước - có ý nghĩa quyết định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cộng đồng DN vẫn chưa khai thác đầy đủ dư địa này, khi mức độ ĐMST và CĐS còn khiêm tốn, nguồn lực đầu tư hạn chế và sự kết nối với hệ sinh thái bên ngoài chưa thực sự chặt chẽ.
Theo ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), kết quả khảo sát của VCCI đối với hơn 3.500 DN tư nhân tại 34 tỉnh, thành phố gần đây cho thấy mức độ tham gia vào ĐMST và CĐS của cộng đồng DN vẫn còn khá thấp. Cụ thể, chỉ 38% DN sử dụng ít nhất một công nghệ số ở mức độ “thấp” trở lên. Tỷ lệ DN thực hiện ít nhất một cải tiến quy trình đạt 29%, trong khi tỷ lệ DN có đổi mới sản phẩm, dịch vụ chỉ ở mức 8,8%. Đặc biệt, tỷ lệ DN sẵn sàng dành từ 3% doanh thu trở lên cho các hoạt động khoa học công nghệ, ĐMST và CĐS chỉ đạt 3,9%. Nguồn nhân lực chuyên trách cho các lĩnh vực này cũng còn rất mỏng, khi chỉ 6,2% DN cho biết có bố trí cán bộ phụ trách.
Những con số trên cho thấy khoảng cách đáng kể giữa yêu cầu đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh với thực tế đầu tư của DN. Trong khi công nghệ, ĐMST và CĐS ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng suất và khả năng thích ứng của DN, không ít DN vẫn đang tiếp cận quá trình này ở quy mô hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn lực nội tại.
Đáng chú ý, mức độ đổi mới có sự phân hóa rõ rệt theo quy mô DN. So với nhóm DN siêu nhỏ, DN lớn có tỷ lệ đổi mới sản phẩm cao gấp hơn 3 lần, tương ứng 28,1% so với 8,7%; tỷ lệ hợp tác khoa học công nghệ cao gấp 7 lần, tương ứng 20,9% so với 2,8%. Sự chênh lệch này phản ánh khá rõ lợi thế về nguồn lực của DN quy mô lớn. Khi có tiềm lực tài chính, nhân lực và khả năng tiếp cận thông tin tốt hơn, DN có điều kiện đầu tư cho công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như thiết lập quan hệ hợp tác với các đối tác bên ngoài. Trong khi đó, đối với phần lớn DN nhỏ và siêu nhỏ, bài toán trước mắt vẫn là duy trì hoạt động, kiểm soát chi phí và tìm kiếm thị trường. Vì vậy, đầu tư cho những hoạt động mang tính dài hạn như R&D, ĐMST hay CĐS chưa thực sự trở thành ưu tiên.
Khoảng cách này càng rõ hơn khi đặt DN Việt Nam trong tương quan quốc tế. Nghiên cứu của VCCI cho thấy mức độ đổi mới và đầu tư cho R&D của DN Việt Nam còn thấp so với nhiều nền kinh tế trong khu vực và mức trung bình toàn cầu. Cụ thể, tỷ lệ DN giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ mới trong 3 năm (2023-2025) tại Việt Nam chỉ đạt 7,5%, thấp hơn đáng kể so với Malaysia 21,7%, Thái Lan 18,9% và mức trung bình khu vực 28,5%. Tương tự, tỷ lệ DN có chi cho R&D chỉ khoảng 5,1%, thấp hơn nhiều so với Malaysia 18,9%, Thái Lan 9,9% và mức trung bình toàn cầu 18,3%.
“Thách thức đối với DN không chỉ nằm ở việc ứng dụng thêm một công nghệ hay số hóa một quy trình. Vấn đề sâu hơn là năng lực đổi mới, khả năng đầu tư cho R&D, chất lượng nhân lực và mức độ kết nối với hệ sinh thái khoa học - công nghệ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới” - ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.
Tại Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra mục tiêu, đến năm 2030, trình độ, năng lực công nghệ, ĐMST, CĐS của DN Việt Nam thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN và nhóm 5 nước đứng đầu khu vực châu Á.
Gỡ điểm nghẽn để doanh nghiệp tăng tốc đổi mới
Nhận diện những rào cản đối với ĐMST và CĐS của DN, nghiên cứu của VCCI cho thấy “Thiếu vốn nội bộ” là trở ngại lớn nhất, với 55,6% DN đánh giá ở mức quan trọng hoặc rất quan trọng. Tiếp đó là “Chi phí cao”, chiếm 52,1% và rủi ro “Thị trường bị chi phối bởi DN lớn”, chiếm 49,5%. Bên cạnh đó, thiếu hụt nhân lực và thông tin công nghệ cũng là những rào cản đáng kể, với tỷ lệ lần lượt 49,1% và 36,1%.
Đáng chú ý, khi phân tích theo quy mô vốn, tính chất của các rào cản có sự chuyển dịch rõ rệt. Với nhóm DN siêu nhỏ có vốn dưới 3 tỷ đồng, tài chính là rào cản mang tính sống còn, được 54,3% DN xác định. Tuy nhiên, khi quy mô vốn tăng lên, sức nặng của rào cản tài chính giảm dần, xuống 41,7% ở nhóm DN có vốn từ 20-200 tỷ đồng và còn 30,7% ở nhóm trên 200 tỷ đồng. Ngược lại, nhóm rào cản về tri thức và nhân lực vẫn hiện diện dai dẳng, khi có khoảng 42-47% DN phản ánh tình trạng này và chỉ giảm xuống ở nhóm DN có quy mô lớn nhất. Điều đó cho thấy khi DN vượt qua bài toán về vốn, điểm nghẽn đối với ĐMST và CĐS dần chuyển sang chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận thông tin, tri thức công nghệ.
Từ thực trạng và những điểm nghẽn được nhận diện, nhóm nghiên cứu của VCCI đưa ra nhiều khuyến nghị.
Trước hết, chính sách hỗ trợ ĐMST và CĐS cần được thiết kế theo hướng phân tầng DN, phù hợp với quy mô và nhu cầu. Với nhóm siêu nhỏ và nhỏ, cần ưu tiên các công cụ tài chính như tín dụng ưu đãi, quỹ hỗ trợ đổi mới vi mô. Với DN vừa, trọng tâm nên là các chương trình nâng cao năng lực nhân sự số và kết nối thông tin công nghệ. Đối với DN lớn, chính sách cần tập trung kiến tạo hệ sinh thái R&D hợp tác sâu, đồng thời củng cố hành lang pháp lý về bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Cùng với hỗ trợ về nguồn lực, một vấn đề quan trọng là thay đổi tư duy quản trị, trong đó cần ưu tiên chuyển đổi tư duy lãnh đạo trước khi đầu tư vào chuyển đổi công nghệ. Một nền tảng văn hóa quản trị cởi mở có thể tạo điều kiện để DN bố trí nhân sự chuyên trách cho ĐMST, khuyến khích chấp nhận rủi ro, hình thành quy trình nuôi dưỡng ý tưởng và lan tỏa những bài học từ các mô hình đổi mới thành công.
Một điểm nghẽn khác cần được tháo gỡ là sự liên kết trong hệ sinh thái ĐMST. Tỷ lệ DN hợp tác khoa học công nghệ còn thấp cho thấy mối liên kết giữa khu vực DN với các viện nghiên cứu, trường đại học chưa đủ chặt chẽ. Vì vậy, cần thúc đẩy mô hình hợp tác Nhà nước - DN - Viện/Đại học thông qua cơ chế đồng tài trợ R&D và một nền tảng quốc gia kết nối cung - cầu công nghệ.
Bên cạnh đó, cần mở rộng độ bao phủ và nâng cao hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ tài chính công. Thực tế cho thấy, dù tỷ lệ DN tiếp cận nguồn vốn này còn hạn chế, những DN được thụ hưởng lại ghi nhận kết quả đổi mới và mức chi cho ĐMST cao hơn rõ rệt. Điều này cho thấy nguồn vốn Nhà nước có thể đóng vai trò “vốn mồi”, tạo động lực để DN mạnh dạn đầu tư. Do đó, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, cải thiện tiêu chí lựa chọn và nâng cao khả năng tiếp cận để nguồn vốn hỗ trợ đến đúng đối tượng, đồng thời mở rộng số lượng DN có khả năng thụ hưởng.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng dựa nhiều hơn vào công nghệ và tri thức, chậm đổi mới cũng đồng nghĩa với tự thu hẹp cơ hội phát triển. Bởi vậy, nỗ lực “bắt kịp” và “đi cùng” dòng chảy ĐMST, CĐS không chỉ giúp DN Việt nâng cao năng lực cạnh tranh, mà còn tạo bệ phóng để từng bước vươn lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu./.
Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/tao-luc-day-cho-doanh-nghiep-doi-moi-sang-tao
