Nhà nghiên cứu giữ hồn di sản Nam Bộ

Dành cả đời 'nhặt' những gì thiên hạ bỏ đi, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng đã viết nên gần 100 cuốn sách để lưu giữ di sản dân gian Nam Bộ đang dần mai một.

 Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng là một học giả về văn hóa dân gian Nam Bộ. Sinh năm 1952 ở vùng đất Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) đau thương, ông từng làm giao liên trong kháng chiến chống Mỹ từ tuổi thiếu niên trước khi theo học báo chí tại Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn - TP.HCM). Với gần 100 đầu sách tự tay biên soạn, ông tự nhận mình là "Hòa thượng Thích Đủ Thứ", dành cả đời để sưu tầm, nghiên cứu kiến thức từ những bậc tiền bối với hy vọng giữ lại hồn cốt văn hóa dân gian đang dần mai một.

Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng là một học giả về văn hóa dân gian Nam Bộ. Sinh năm 1952 ở vùng đất Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) đau thương, ông từng làm giao liên trong kháng chiến chống Mỹ từ tuổi thiếu niên trước khi theo học báo chí tại Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn - TP.HCM). Với gần 100 đầu sách tự tay biên soạn, ông tự nhận mình là "Hòa thượng Thích Đủ Thứ", dành cả đời để sưu tầm, nghiên cứu kiến thức từ những bậc tiền bối với hy vọng giữ lại hồn cốt văn hóa dân gian đang dần mai một.

 Tủ sách đồ sộ trong thư phòng của nhà nghiên cứu là nơi lưu giữ hơn 100 đầu sách nghiên cứu do ông là tác giả hoặc đồng tác giả. Đây là thành quả của hàng chục năm ròng rã đi điền dã bằng xe đạp khắp miền Tây, từ Long An đến tận Cà Mau để sưu tầm từng mẩu chuyện và hiện vật.

Tủ sách đồ sộ trong thư phòng của nhà nghiên cứu là nơi lưu giữ hơn 100 đầu sách nghiên cứu do ông là tác giả hoặc đồng tác giả. Đây là thành quả của hàng chục năm ròng rã đi điền dã bằng xe đạp khắp miền Tây, từ Long An đến tận Cà Mau để sưu tầm từng mẩu chuyện và hiện vật.

Đằng sau những gáy sách cũ là những kỷ niệm "cười ra nước mắt". Có những công trình như Hát sắc bùa Phú Lễ, ông phải lặn lội suốt 3 tháng ròng đi phỏng vấn, ghi âm, ký âm mới hoàn thành.

 Tác phẩm mới nhất của ông là Tổng tập văn học dân gian Nam Bộ, gồm 7 tập - 12 quyển. Đây là công trình "để đời" được thực hiện theo kiểu tổng động viên cả gia đình cùng góp sức. Trong bối cảnh các hình thức hát ru, hò lý đứng trước nguy cơ biến mất, bộ sách này chính là nỗ lực để lưu giữ di sản. Ông quan niệm giá trị của nó nằm ở việc ghi lại một cách trung thực nhất những gì lịch sử đã hoặc sắp bỏ quên.

Tác phẩm mới nhất của ông là Tổng tập văn học dân gian Nam Bộ, gồm 7 tập - 12 quyển. Đây là công trình "để đời" được thực hiện theo kiểu tổng động viên cả gia đình cùng góp sức. Trong bối cảnh các hình thức hát ru, hò lý đứng trước nguy cơ biến mất, bộ sách này chính là nỗ lực để lưu giữ di sản. Ông quan niệm giá trị của nó nằm ở việc ghi lại một cách trung thực nhất những gì lịch sử đã hoặc sắp bỏ quên.

 Dù học báo chí, Huỳnh Ngọc Trảng lại nổi danh nhờ tính hệ thống trong nghiên cứu. Ông là người giải mã những bí mật ẩn sau tượng Ông Táo, vốn là "Bà Táo" từ thời mẫu hệ với chi tiết "lỗ rốn" biểu trưng cho tính gắn kết với người mẹ. Lĩnh vực nghiên cứu của ông trải dài từ gốm sứ, đồ cổ đến diễn xướng dân gian.

Dù học báo chí, Huỳnh Ngọc Trảng lại nổi danh nhờ tính hệ thống trong nghiên cứu. Ông là người giải mã những bí mật ẩn sau tượng Ông Táo, vốn là "Bà Táo" từ thời mẫu hệ với chi tiết "lỗ rốn" biểu trưng cho tính gắn kết với người mẹ. Lĩnh vực nghiên cứu của ông trải dài từ gốm sứ, đồ cổ đến diễn xướng dân gian.

Huỳnh Ngọc Trảng tự hào là người "phát kiến" ra giá trị của những pho tượng bình dân. Ông từng lượm hơn 400 tượng Ông Địa từ các miếu hoang và gốc cây khi chưa ai đoái hoài đến chúng.

 Theo nhà nghiên cứu, phát hiện lớn nhất trong sự nghiệp của ông chính là tượng Mục đồng, những bức tượng đất sét do trẻ chăn trâu nặn. Ông đã đi khắp Gò Công, Ba Tri đến Bà Rịa để xác minh huyền thoại về "tượng nổi lềnh bềnh" tại chùa Ông Trí. Ông đánh giá cao tượng Mục đồng vì chúng mang vẻ đẹp hồn nhiên thuần khiết, không bị rập khuôn bởi kinh kệ hay định hướng của các trường lớp mỹ thuật chính quy.

Theo nhà nghiên cứu, phát hiện lớn nhất trong sự nghiệp của ông chính là tượng Mục đồng, những bức tượng đất sét do trẻ chăn trâu nặn. Ông đã đi khắp Gò Công, Ba Tri đến Bà Rịa để xác minh huyền thoại về "tượng nổi lềnh bềnh" tại chùa Ông Trí. Ông đánh giá cao tượng Mục đồng vì chúng mang vẻ đẹp hồn nhiên thuần khiết, không bị rập khuôn bởi kinh kệ hay định hướng của các trường lớp mỹ thuật chính quy.

 Huỳnh Ngọc Trảng ví những pho tượng dân gian là "Thiên lại" - tiếng sáo của trời, ra đời từ sự xuất thần của người nghệ sĩ bình dân chứ không phải lý trí của con người. Khác với các công trình nghiên cứu khoa học cần sự trường kỳ và hệ thống, những tác phẩm này mang tính nhất thời và cảm tính. Chúng phản ánh tâm hồn và nhu cầu thiết yếu nhất của cộng đồng, là những sản phẩm nghệ thuật đầu tiên của vùng đất Nam Bộ.

Huỳnh Ngọc Trảng ví những pho tượng dân gian là "Thiên lại" - tiếng sáo của trời, ra đời từ sự xuất thần của người nghệ sĩ bình dân chứ không phải lý trí của con người. Khác với các công trình nghiên cứu khoa học cần sự trường kỳ và hệ thống, những tác phẩm này mang tính nhất thời và cảm tính. Chúng phản ánh tâm hồn và nhu cầu thiết yếu nhất của cộng đồng, là những sản phẩm nghệ thuật đầu tiên của vùng đất Nam Bộ.

Mỗi bức tượng trong thư phòng đều gắn liền với một bối cảnh lịch sử nhất định. Huỳnh Ngọc Trảng quan niệm một tác phẩm thực sự phải "có thật" và gắn kết được với dòng chảy lịch sử. Tất cả là mảnh ghép để ông dựng lại bức tranh xã hội Nam Bộ xưa, giúp thế hệ sau hiểu được đời sống của cha ông.

 "Giá trị nằm ở chỗ mình giữ lấy di sản lẽ ra đã mất đi" là tâm niệm của nhà nghiên cứu khi thực hiện các nghiên cứu. Với ông, mỗi trang viết sẽ góp phần ngăn chặn "cái chết báo trước" của văn hóa dân gian.

"Giá trị nằm ở chỗ mình giữ lấy di sản lẽ ra đã mất đi" là tâm niệm của nhà nghiên cứu khi thực hiện các nghiên cứu. Với ông, mỗi trang viết sẽ góp phần ngăn chặn "cái chết báo trước" của văn hóa dân gian.

Phương Lâm - Đức An

Nguồn Znews: https://znews.vn/nha-nghien-cuu-giu-hon-di-san-nam-bo-post1625908.html