Để ẩm thực trở thành 'đại sứ văn hóa' Thủ đô - Bài 4: Đánh thức 'mỏ vàng' ẩm thực


Nếu Paris được nhớ bằng những quán cà phê ven đường, Kyoto được nhắc đến cùng nghệ thuật ẩm thực Kaiseki, Bangkok xây dựng thành công hình ảnh “thiên đường ẩm thực đường phố”, thì Hà Nội, thành phố được nhiều đầu bếp quốc tế đánh giá là một trong những điểm đến ẩm thực hấp dẫn của châu Á đang sở hữu một “mỏ vàng” chưa được đánh thức.

Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22-2-2022 của Thành ủy Hà Nội đã xác định ẩm thực là một trong những lĩnh vực mũi nhọn của công nghiệp văn hóa. Nhưng để những giá trị vốn có thực sự trở thành nguồn lực phát triển, Hà Nội cần nhiều hơn những lễ hội ẩm thực hay những danh sách món ngon. Điều cần thiết là một chiến lược tổng thể để quảng bá, tổ chức không gian, chuẩn hóa chất lượng và kiến tạo hệ sinh thái đưa ẩm thực trở thành "đại sứ văn hóa" của Thủ đô.
Theo PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội: Nếu tổ chức, bảo tồn và phát triển đúng hướng, ẩm thực không chỉ tạo nên một ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao mà còn trở thành sức mạnh mềm để quảng bá hình ảnh quốc gia và Thủ đô. Điều còn thiếu là một chiến lược để nâng những giá trị vốn có lên thành một hệ sinh thái trải nghiệm văn hóa mang tầm quốc tế.

Ẩm thực Hà Nội hiện diện tại nhiều lễ hội, song các gian hàng vẫn chưa được đầu tư tương xứng với giá trị văn hóa của những món ăn đặc trưng của đất Kinh kỳ.
Tuy nhiên, một tuyến phố được gọi là phố ẩm thực của Thủ đô, nhưng bên cạnh phở, bún chả, bún thang hay chả cá lại xuất hiện không ít món ăn vùng miền khác, thậm chí cả món nước ngoài. Song chính sự phong phú ấy lại khiến dấu ấn riêng của ẩm thực Hà Nội trên tuyến phố này trở nên mờ nhạt. Làm thế nào để cả khu phố cổ được tổ chức lại thành một hệ sinh thái trải nghiệm đúng nghĩa, thay vì chỉ là một dãy hàng quán san sát nhau, mạnh ai nấy bán?
Theo PGS, TS Bùi Hoài Sơn: Nếu xác định phát triển những tuyến phố ẩm thực như một sản phẩm du lịch đặc thù thì thành phố cần có định hướng rõ ràng hơn. “Hoàn toàn có thể quy hoạch theo chủ đề. Có những khu vực dành để tôn vinh ẩm thực Hà Nội gốc, giúp du khách chỉ cần đến một địa điểm là có thể cảm nhận đầy đủ phong vị Tràng An. Bên cạnh đó vẫn có những không gian dành cho ẩm thực vùng miền và quốc tế. Như vậy vừa giữ được bản sắc, vừa bảo đảm sự đa dạng của một đô thị lớn”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn phân tích.

Cùng quan điểm ấy, nhà báo, đầu bếp Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Biên tập Văn hóa-Xã hội, Đài Phát thanh - Truyền hình, Hà Nội: Một tuyến phố mang tên ẩm thực Hà Nội thì điều đầu tiên du khách cần được nhận diện phải là những món ăn làm nên tên tuổi của Thủ đô. Đó không chỉ là phở, bún chả hay chả cá Lã Vọng mà còn có bún thang, bánh cuốn Thanh Trì, xôi Phú Thượng, cốm Mễ Trì, chè sen, ô mai... Mỗi món ăn đều mang theo một câu chuyện về lịch sử, con người và nếp sống Hà Nội. Nếu những câu chuyện ấy bị hòa lẫn trong quá nhiều lựa chọn khác, giá trị nhận diện sẽ giảm đi đáng kể.
Phố cổ Hà Nội hoàn toàn có thể phát triển theo nhiều lớp giá trị chồng lên nhau. Lớp thứ nhất là ẩm thực đường phố gồm phở, bún chả, bánh cuốn, bún thang, cháo, miến, chè, cà phê. Lớp thứ hai là ẩm thực gia đình và mâm cỗ truyền thống. Lớp thứ ba là ẩm thực sáng tạo, nơi các đầu bếp trẻ làm mới nguyên liệu và ký ức Hà Nội bằng ngôn ngữ đương đại. Lớp thứ tư là quà tặng ẩm thực như cốm, trà sen, ô mai, bánh mứt, cà phê, gia vị, sản phẩm đóng gói có thiết kế đẹp. Khi bốn lớp này được kết nối, phố cổ không chỉ là nơi ăn uống mà trở thành một bảo tàng sống về văn hóa ẩm thực Hà Nội.
Nhưng để bốn lớp ấy thực sự kết nối được với nhau, để ẩm thực không còn là đích đến mà trở thành sợi dây kết nối nhiều giá trị văn hóa khác, không thể trông chờ vào sự tự phát của từng hộ kinh doanh. PGS, TS Bùi Hoài Sơn chia sẻ điều ấp ủ bấy lâu: “Cần có bản đồ ẩm thực rõ ràng, tuyến phố chuyên đề, biển chỉ dẫn đa ngữ, điểm dừng chân, nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn, quy chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn phục vụ, chương trình thuyết minh văn hóa ẩm thực, sản phẩm tour ngày và tour đêm, cùng hệ thống truyền thông quốc tế bài bản”.

Kết hợp ẩm thực Hà Nội với không gian truyền thống và các trải nghiệm văn hóa là hướng đi hấp dẫn, giúp du khách không chỉ thưởng thức món ăn mà còn khám phá chiều sâu văn hóa, lịch sử của Thủ đô.
Những giải pháp có vẻ thiên về hạ tầng và quản lý nhưng thực chất đều hướng tới một mục tiêu biến mỗi món ăn thành một trải nghiệm hoàn chỉnh. Đó cũng là lúc một tuyến phố ẩm thực trở thành một “bảo tàng sống” của văn hóa Hà Nội, nơi mỗi con phố, mỗi hàng quán, mỗi món ăn đều góp phần kể cùng một câu chuyện về một Thủ đô văn hiến, thanh lịch và sáng tạo.
Bên cạnh việc tổ chức lại không gian hiện có, một hướng đi khác cũng được nhắc đến trong những cuộc trò chuyện của chúng tôi với giới nghiên cứu quy hoạch đô thị: Hà Nội có nên tính đến việc quy hoạch hẳn một không gian ẩm thực tập trung hoàn toàn mới, tận dụng lợi thế cảnh quan của thành phố?
Nhiều ý kiến gợi mở về khu vực ven sông Hồng, nơi vốn đã gắn liền với đời sống, giao thương của người Hà Nội từ hàng trăm năm trước. Một “thành phố ẩm thực” bên sông có thể kết hợp chợ truyền thống, làng nghề, khu biểu diễn nghệ thuật, khu trải nghiệm nấu ăn, phố đi bộ đêm... Không gian ẩm thực ven sông nếu được quy hoạch bài bản, hoàn toàn có thể trở thành một phiên bản đương đại của phiên chợ Đồng Xuân năm xưa: Nơi sản vật từ khắp nơi đổ về nhưng được sắp đặt có chủ đích, có câu chuyện, có tiêu chuẩn phục vụ một thành phố đang vươn ra thế giới.

Trong hàng triệu video về du lịch trên mạng xã hội, có không ít clip chỉ kéo dài vài chục giây nhưng thu hút hàng triệu lượt xem. Một góc quay đẹp, một tiếng "xèo" của vỉ chả nướng, một gương mặt thực khách tròn mắt khi lần đầu nếm cà phê trứng... đôi khi có sức lan tỏa mạnh hơn nhiều trang quảng cáo.
Nhà sáng tạo nội dung số người Anh Rebecca Zoe Adams hiểu điều đó hơn ai hết. Gần 4 năm trước, cô đến Hà Nội để dạy tiếng Anh. Khi ấy, Rebecca chưa từng nghĩ ẩm thực sẽ trở thành nội dung chính trên những nền tảng mạng xã hội của mình. Nhưng càng sống lâu ở Thủ đô, cô càng nhận ra bạn bè quốc tế của cô hầu như chỉ biết đến phở hay bánh mì, trong khi Hà Nội còn vô số món ăn đặc sắc mà họ chưa từng nghe tên.


Rebecca – người nước ngoài dành tình yêu đặc biệt cho ẩm thực Hà Nội và góp phần lan tỏa những trải nghiệm về văn hóa, ẩm thực Việt Nam đến cộng đồng quốc tế.

Những video của thực khách trong nước và quốc tế góp phần lan tỏa vẻ đẹp, hương vị và sức hấp dẫn của ẩm thực Hà Nội trên các nền tảng số.
“Tôi muốn giới thiệu nhiều hơn về sự phong phú của ẩm thực Hà Nội”, Rebecca chia sẻ. Từ những video giản dị ghi lại một bát bún ốc, đĩa bánh cuốn hay cốc chè mùa hè, cô nhận ra ẩm thực là một trong những "ngôn ngữ" dễ kết nối con người nhất. Theo Rebecca, nếu muốn đưa ẩm thực Hà Nội trở thành một thương hiệu có sức lan tỏa quốc tế, điều quan trọng trước hết là để nhiều người trên thế giới biết đến hơn. Trong thời đại số, mạng xã hội chính là con đường nhanh nhất.
Câu chuyện của Rebecca khiến chúng tôi nhớ lại khung cảnh ở phố Tống Duy Tân. Giữa hàng trăm thực khách, không ít người nước ngoài vừa ăn vừa giơ điện thoại quay lại từng món ăn, rồi lập tức chia sẻ lên mạng xã hội. Có lẽ, chưa bao giờ một bát phở hay một đĩa bún chả lại có cơ hội đi xa nhanh đến thế.


Khi quy hoạch đô thị ven sông được nhìn từ góc độ văn hóa, những bờ sông Hà Nội có thể trở thành không gian mới để lan tỏa tinh hoa ẩm thực Hà thành.
Nhưng mạng xã hội, suy cho cùng, chỉ là cánh cửa đầu tiên. Một đoạn video dài vài chục giây có thể khiến người xem tò mò về một món ăn nhưng khó có thể kể hết những lớp trầm tích văn hóa nằm phía sau nó. Đó cũng là điều PGS, TS Bùi Hoài Sơn, người tham gia Ban soạn thảo Nghị quyết số 09-NQ/TU của Thành ủy Hà Nội, nhiều lần trăn trở. Ông cho rằng, muốn xây dựng thương hiệu ẩm thực mang tầm quốc tế, Hà Nội cần phát huy đồng thời nhiều kênh truyền thông với những vai trò khác nhau. Mạng xã hội phù hợp để tạo sự chú ý, khơi gợi cảm hứng khám phá. Nhưng để chạm đến chiều sâu văn hóa, cần những bộ phim tài liệu, những phóng sự chất lượng cao trên các nền tảng truyền hình và trực tuyến có uy tín như Netflix, National Geographic hay Discovery.
Một bộ phim tài liệu được đầu tư bài bản có thể làm được điều mà hàng chục chiến dịch quảng bá đơn lẻ không thể. Khi bát phở được đặt trong câu chuyện về những gánh hàng rong Hà Nội xưa. Khi gói cốm dẫn người xem trở về những cánh đồng ven đô và nhịp sống mùa thu. Khi chả cá Lã Vọng được kể cùng lịch sử của một gia đình yêu nước..., món ăn sẽ không còn đơn thuần là thực phẩm mà trở thành một phần ký ức văn hóa. Ẩm thực vì thế trở thành cánh cửa bước vào văn hóa.
Không chỉ trên không gian số hay màn ảnh, ẩm thực cũng cần hiện diện nhiều hơn trong các hoạt động đối ngoại văn hóa và ngoại giao nhân dân. Những tuần lễ văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, các diễn đàn quốc tế hay những sự kiện ngoại giao lớn sẽ ý nghĩa hơn nếu mỗi món ăn được giới thiệu như một câu chuyện về Thăng Long - Hà Nội, thay vì chỉ là một món ăn để thưởng thức.

Nhưng một không gian được quy hoạch đẹp đẽ, một chiến lược quảng bá bài bản vẫn sẽ khó thuyết phục được ai nếu ngay bên trong nó vẫn còn tồn tại những điều mà chính loạt bài này đã từng chỉ ra ở kỳ báo trước.
“Cái đáng lo nhất bây giờ không phải là chúng ta thiếu món ngon mà là nhiều quán ngon lại không đủ điều kiện để đón một vị khách kỹ tính. Muốn khách quốc tế tin tưởng, trước hết phải sạch. Sạch từ tay người làm, sạch bát đũa, sạch cả cái không gian ngồi ăn. Ông cha ta ngày xưa làm hàng quà cũng cẩn thận lắm, chứ không phải cứ bình dân là xuềnh xoàng”, nhà báo, đầu bếp Vũ Thị Tuyết Nhung nói. Với bà, một món ăn có thể chưa được bày biện cầu kỳ, nhưng nếu nguyên liệu sạch, chế biến đúng cách, thì vẫn xứng đáng được tin tưởng hơn một món ăn được trang trí đẹp mắt nhưng ẩn giấu rủi ro.
Điều khiến chúng tôi bất ngờ là bà không hề coi việc "chuẩn hóa" là mối đe dọa với chất bình dân vốn làm nên linh hồn ẩm thực đường phố Hà Nội, điều mà nhiều người kinh doanh nhỏ lẻ vẫn e ngại. “Người ta cứ nghĩ đạt chuẩn là phải sang trọng, phải đắt tiền. Không phải! Một gánh hàng rong vẫn có thể sạch, vẫn có thể ngon, vẫn có thể giữ đúng công thức của các cụ, miễn là người bán có ý thức. Cái ý thức ấy phải được nhắc nhở, được hướng dẫn, chứ không tự nhiên mà có”, bà nói.

Khi trải nghiệm ẩm thực kết hợp với không gian, những món ăn truyền thống trở thành một phần của hành trình khám phá văn hóa Hà Nội, giúp du khách cảm nhận sâu hơn về lịch sử, nếp sống và bản sắc của Thủ đô.
Khi chúng tôi hỏi liệu thành phố có nên xây dựng một hệ thống xếp hạng, gắn nhãn cho những quán ăn đạt chuẩn hay không, bà gật đầu ngay: “Nên lắm chứ. Không phải để phân biệt quán này hơn quán kia mà để cho khách, nhất là khách nước ngoài có một điểm tựa để tin tưởng. Giống như người ta nhìn vào một cái tem chứng nhận trên thực phẩm vậy. Nhìn vào biết ngay đây là quán đã được kiểm tra, đã cam kết giữ đúng công thức truyền thống, đã bảo đảm vệ sinh”. Nhưng bà cũng không quên một lời nhắc mà chúng tôi cho là đáng để bất cứ nhà quản lý nào cân nhắc: “Phải làm thật, đừng làm cho có phong trào. Một cái biển dán lên rồi bỏ đấy thì chẳng khác gì không có”.
Hơn nữa, cần kiên quyết đình chỉ những cơ sở vi phạm nghiêm trọng. Không thể đánh đổi thương hiệu của cả Thủ đô lấy lợi ích của một vài hộ kinh doanh. Song song với việc xử lý nghiêm, cần xây dựng những tiêu chuẩn thống nhất về vệ sinh, phục vụ, biển hiệu, trưng bày, để các tuyến phố ẩm thực vừa giữ được nét truyền thống, vừa đáp ứng yêu cầu của một đô thị hiện đại. Việc kiểm tra của các cơ quan chức năng không nên chỉ tập trung ở những tuyến phố lớn, dễ thấy mà cần len sâu vào cả những ngõ nhỏ, nơi phần lớn các vi phạm về vệ sinh vẫn đang âm thầm tồn tại.

Với PGS, TS Bùi Hoài Sơn, ông đặt vấn đề ở một tầm rộng hơn: “Ẩm thực Hà Nội cần nâng món ngon lên thành sản phẩm văn hóa chuyên nghiệp. Phải chuẩn hóa từ chất lượng món ăn, vệ sinh, phục vụ, không gian, cho đến truyền thông và câu chuyện thương hiệu. Thiếu một khâu nào trong chuỗi ấy, cả chuỗi sẽ yếu”, ông nói và nhắc lại điều mà ông từng chia sẻ với chúng tôi ở một kỳ báo trước: Ẩm thực Hà Nội cần vượt qua tư duy "quán ngon truyền miệng" để bước sang tư duy "sản phẩm văn hóa chuyên nghiệp".
Việc chuẩn hóa phải được nhìn nhận như một quá trình nâng cao giá trị, chứ không phải một cuộc "cải tạo" làm mất đi hồn cốt của ẩm thực Hà Nội. Cái cần giữ là hương vị nghìn năm, là nếp ứng xử thanh lịch, là những quán ăn gia truyền và không gian phố cổ. Cái cần thay đổi là cách tổ chức, cách quản lý và chất lượng phục vụ. Chỉ một nụ cười thân thiện, một lời giới thiệu ngắn gọn về món ăn hay một thái độ ứng xử văn minh cũng có thể để lại ấn tượng sâu sắc hơn bất kỳ chiến dịch quảng bá nào.
Nhà báo, đầu bếp Vũ Thị Tuyết Nhung cũng không né tránh một thực tế: Không phải người Hà Nội nào giữ bí quyết gia truyền cũng muốn được quảng bá rộng rãi. “Nhiều gia đình có món ăn ngon, khách quen đã đủ đông, đủ sống được rồi, nên họ không có nhu cầu mở rộng…”, bà nói. Theo bà, đây chính là bài toán mà bất cứ chiến lược quảng bá nào của thành phố cũng phải tính đến sự tế nhị: “Không thể ép ai phải thương mại hóa bí quyết của mình. Nhưng có thể tạo ra cơ chế để khi người ta sẵn sàng, câu chuyện của họ sẽ được kể lại, chứ không bị bỏ quên”.
Vì vậy, Hà Nội cần có những tiêu chuẩn rõ ràng để tôn vinh những cơ sở làm nghề nghiêm túc. Khi một quán ăn được công nhận, đó không chỉ là niềm tự hào của chủ quán mà còn là địa chỉ tin cậy để du khách tìm đến. Cách làm ấy phần nào tương đồng với mô hình của Michelin, các chuyên gia thẩm định độc lập bí mật trải nghiệm nhiều lần trước khi đưa ra đánh giá. Điều Hà Nội cần hướng tới là một bộ tiêu chí mang bản sắc Hà Nội, một hệ thống uy tín để người dân tin tưởng, doanh nghiệp phấn đấu và du khách có thể yên tâm lựa chọn.
Bên cạnh việc tôn vinh, thành phố cần có chính sách hỗ trợ những hộ kinh doanh truyền thống. Không ít quán ăn gia truyền vẫn hoạt động trong những căn nhà nhỏ, thiếu điều kiện cải tạo không gian, xây dựng thương hiệu hay ứng dụng công nghệ số. Nếu được hỗ trợ về đào tạo, chuyển đổi số, thiết kế nhận diện, đăng ký sở hữu trí tuệ hay quảng bá trên các nền tảng trực tuyến, những thương hiệu ấy sẽ có thêm cơ hội phát triển mà vẫn giữ được bản sắc vốn có.

Xu hướng du lịch thế giới đang cho thấy: Ẩm thực giờ đây phải được lồng ghép vào những trải nghiệm rộng hơn. Du khách ngày nay không còn hài lòng với việc đến một nơi, ăn một bữa rồi rời đi. Điều họ tìm kiếm là những trải nghiệm mà chỉ nơi đó mới có thể mang lại. Một món ăn ngon có thể khiến người ta hài lòng trong một bữa, nhưng một trải nghiệm văn hóa trọn vẹn mới đủ sức khiến họ nhớ về một thành phố rất lâu sau khi chuyến đi kết thúc.

Ẩm thực Hà Nội không chỉ được cảm nhận bằng vị giác. Qua mỗi món ăn, mỗi không gian và mỗi cách thưởng thức, du khách có thể hiểu thêm những câu chuyện văn hóa làm nên bản sắc của Thủ đô.
Thành phố có thể xây dựng một “bản đồ trải nghiệm ẩm thực Hà Nội”, trong đó các sản phẩm được phân hạng theo mức độ trải nghiệm và nhu cầu của từng nhóm khách. Từ những tour đường phố vài giờ, các lớp học nấu ăn, trải nghiệm làng nghề đến những hành trình ẩm thực cao cấp kéo dài nhiều ngày như kết hợp giữa ẩm thực, chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng. Hay như những lễ hội ẩm thực có sự tham gia của các nghệ sĩ nổi tiếng, các chương trình âm nhạc ngoài trời hay những buổi biểu diễn kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống và đương đại sẽ tạo thêm sức hút đối với giới trẻ. Những trại hè dành cho học sinh quốc tế học nấu món ăn Việt Nam, tìm hiểu lịch sử Thăng Long, tham quan làng nghề và sống cùng các gia đình Hà Nội cũng sẽ trở thành những "lớp học văn hóa" sinh động. Khi hệ sinh thái này được hình thành, Hà Nội sẽ không chỉ bán những món ăn nổi tiếng mà còn bán những ký ức, cảm xúc và trải nghiệm mang đậm bản sắc Việt Nam.

Vinh danh những người lưu giữ hồn cốt ẩm thực Hà Nội đã góp phần truyền lại hương vị, ký ức và bản sắc văn hóa của Thủ đô qua từng món ăn.
Những tour trải nghiệm ẩm thực, nơi du khách không chỉ ăn mà còn được tham gia quá trình làm một món ăn, được nghe kể vì sao món ăn ấy lại mang tên như vậy, ra đời trong hoàn cảnh nào chính. Điều du khách mang về sau trải nghiệm không chỉ là một món ăn mà còn là niềm tự hào khi chính mình trở thành một phần của câu chuyện. Một yếu tố cần được chú trọng là thiết kế trải nghiệm theo hướng “đáng chia sẻ”. Trong suốt hành trình, du khách được hỗ trợ ghi lại những khoảnh khắc đẹp bằng ảnh và video chuyên nghiệp. Khi kết thúc chương trình, mỗi người nhận được một bộ ảnh, một đoạn phim ngắn dựng theo phong cách điện ảnh hoặc một cuốn nhật ký số ghi lại toàn bộ hành trình. Đây vừa là món quà lưu niệm, vừa là tư liệu để họ chia sẻ trên mạng xã hội.
Tất cả những ý tưởng ấy, từ quy hoạch tuyến phố, xây không gian ẩm thực ven sông, đến các mô hình kết hợp trải nghiệm đều khó có thể thành hiện thực nếu thiếu bàn tay kiến tạo của chính quyền. Cần một tầm nhìn dài hơi, quy hoạch bài bản, chính sách hỗ trợ rõ ràng, chiến lược quảng bá đồng bộ để ẩm thực thực sự trở thành một ngành công nghiệp văn hóa, chứ không chỉ là một điểm cộng thêm vào bức tranh du lịch Thủ đô.

Tự tay làm những món ăn truyền thống Hà Nội là trải nghiệm văn hóa độc đáo để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng thực khách.
Nhưng chính quyền cũng không thể làm một mình. Sau cùng, người giữ lửa cho từng món ăn, từng câu chuyện vẫn là những người đang ngày ngày đứng bếp, bán hàng, gìn giữ công thức gia truyền. Khi nhà quản lý có tầm nhìn và người kinh doanh cùng chung tay gìn giữ, nâng tầm, thì khi ấy, ẩm thực Hà Nội mới thực sự trở thành một “bảo tàng sống”.
Đó cũng chính là đích đến mà Nghị quyết số 09-NQ/TU hướng tới: Chuyển hóa những giá trị văn hóa nghìn năm thành nguồn lực và động lực phát triển bền vững trong thời kỳ mới; đồng thời hiện thực hóa tinh thần xây dựng Thủ đô “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII và cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Nội dung: NHÓM PHÓNG VIÊN
Ảnh: Thanh Tú và Cộng tác viên
Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC











