Chiều 4/12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam…
Chính phủ đề xuất tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và công tác di dời công trình điện có điện áp từ 110 kv trở lên thành các dự án độc lập, nguồn vốn được bố trí từ ngân sách Trung ương và địa phương.
Chiều 4/12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục phiên họp thứ 52 để cho ý kiến về đề xuất bổ sung cơ chế, chính sách áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Chiều 4/12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đề xuất bổ sung cơ chế, chính sách áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Chiều 4/12, tiếp tục Phiên họp thứ 52, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết Chính phủ đề xuất hai chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam.
Chính phủ kiến nghị tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và công tác di dời công trình điện có điện áp từ 110 kv trở lên thành các dự án độc lập, nguồn vốn được bố trí từ ngân sách trung ương và địa phương.
Luật Đường sắt 2025 có nhiều quy định mới nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, rõ ràng để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển các dự án đường sắt tốc độ cao.
Luật Đường sắt 2025 có nhiều quy định mới nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, rõ ràng để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển các dự án đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam trong thời gian tới.
Sáng 28/11, các đại biểu Quốc hội thảo luận về việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ngày 27/11, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành và các doanh nghiệp về Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam. Cùng dự có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà.
Chiều 15/11/2025, tại Hà Nội, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì họp Thường vụ Đảng ủy Chính phủ với các bộ, ngành về cơ chế chính sách dự án đường sắt tốc độ cao trình Quốc hội.
Để thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, Nghị quyết của Quốc hội đề ra 11 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm; trong đó, có giải pháp tập trung đầu tư xây dựng, bảo đảm tiến độ các công trình hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại.
Nghị quyết mới của Quốc hội mở ra cơ chế đặc thù cho Hà Nội và TP.HCM, kỳ vọng thúc đẩy phát triển hệ thống đường sắt đô thị hiện đại, bền vững, hướng tới đồng bộ hạ tầng giao thông.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh vừa ký quyết định thành lập tổ soạn thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, nhằm tạo hành lang pháp lý cho siêu dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia.
Phó thủ tướng Trần Hồng Hà yêu cầu quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp khi có rủi ro khách quan và rủi ro do năng lực yếu kém hoặc vi phạm.
Liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung đề nghị bổ sung cơ chế chia sẻ trách nhiệm nguồn lực với ngân sách địa phương, tương tự các dự án đường cao tốc đang triển khai.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, năng lực công nghệ và chuyển giao công nghệ của nhà đầu tư được coi là vấn đề then chốt, phù hợp yêu cầu làm chủ công nghệ và phát triển công nghiệp đường sắt trong nước.
Ngày 3/11, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp nghe báo cáo, cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết về cơ chế đặc thù đối với đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, cơ chế, chính sách cần xác lập mối quan hệ hài hòa giữa quyền lợi và trách nhiệm, đảm bảo an ninh, an toàn tài chính.
Sáng 3/11, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp nghe báo cáo, cho ý kiến về dự thảo nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam.
Bộ Xây dựng đã hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Hồ sơ dự thảo đã được gửi Bộ Tư pháp để thẩm định.
Chiều 31/10, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị quyết một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Chiều 31/10, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu chủ trì Hội đồng thẩm định dự thảo Nghị quyết một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam (Dự án).
Chiều 31/10, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu chủ trì Hội đồng thẩm định Dự thảo Nghị quyết một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt áp dụng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam.
Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Xây dựng và Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương hoàn thiện, công bố 37 Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam trong tháng 10/2025, làm cơ sở pháp lý và kỹ thuật quan trọng để triển khai dự án.
Sáng 21/10, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp với một số bộ, ngành để nghe báo cáo về ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn và các nội dung liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Sáng 21/10, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp nghe báo cáo về ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn và các nội dung liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Các nhóm tiêu chí được xem xét bao gồm: năng lực tài chính; cơ sở vật chất; năng lực nhân sự; năng lực, kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ; chất lượng sản phẩm.
Về cơ chế đặt hàng cung cấp dịch vụ, hàng hóa công nghiệp đường sắt, Phó Thủ tướng khẳng định chủ thể đặt hàng là Nhà nước, không phải địa phương hay nhà đầu tư riêng lẻ.
Bộ Xây dựng đề xuất đổi tên Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam thành 'Dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam', đồng thời rút ngắn chiều dài tuyến còn khoảng 1.541 km.
Đến năm 2035, Việt Nam sẽ đào tạo hơn 100.000 nhân lực cho ngành đường sắt, trong đó hàng chục nghìn kỹ sư, chuyên gia sẽ phục vụ các tuyến tốc độ cao và đường sắt đô thị - bước đi chiến lược để tiến vào thời kỳ tự chủ công nghệ.
Phó Thủ tướng Lê Thành Long đã ký Quyết định số 2230/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045.
Theo Đề án phát triển nhân lực đường sắt, Việt Nam cần đào tạo hơn 150.000 người đến năm 2035, trong đó giai đoạn 2025-2030 sẽ có ít nhất 35.000 nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án đường sắt tốc độ cao, điện khí hóa và đô thị thông minh.
Trong giai đoạn 2025 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao hiện đại và hướng tới 70.000 nhân lực trong giai đoạn 2031 - 2035...
Phó Thủ tướng Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 2230/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045 (Đề án).
Giai đoạn 2025 - 2030, Chính phủ đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực, đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao.
Chính phủ yêu cầu giai đoạn 2025-2030, ngành đường sắt dự kiến đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực; 2031-2035, đào tạo 70.000 người, ưu tiên nhân lực chất lượng cao cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt điện khí hóa và các tuyến đô thị lớn.
Theo mục tiêu đặt ra, giai đoạn 2025-2030, đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực, tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.
Bộ Xây dựng đề nghị bổ sung chính sách ưu đãi cho giảng viên, sinh viên và cán bộ quản lý tham gia đào tạo nhân lực đường sắt tốc độ cao, điện khí hóa và đô thị trong Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục – đào tạo.
Tại hội thảo do Công ty CP Vận tải đường sắt VN (TRV) và Trường Cao đẳng Lilama 2 tổ chức sáng 19/9 ở Hà Nội, các bên thống nhất xây dựng chương trình đào tạo kỹ thuật viên đường sắt tốc độ cao, điện khí hóa theo chuẩn quốc tế.