Sĩ khí nhà thơ

Sắp đến kỷ niệm 87 năm Ngày mất của nhà thơ Tản Đà, tôi tìm đọc lại ông, càng thấy kính trọng, nể phục nhân cách và sĩ khí của một hồn thơ những năm đầu thế kỷ XX.

Chân dung nhà thơ Tản Đà

Chân dung nhà thơ Tản Đà

Đang lúc cuộc sống khốn đốn về vật chất, Tản Đà nhận được thư của Nguyễn Văn Vĩnh chủ nhiệm tờ Trung Bắc tân văn mời ông ra làm trợ bút, yêu cầu mỗi tháng viết cho báo bài xã thuyết, bốn bài thơ. Tiền nhuận bút mỗi bài xã thuyết mười lăm đồng, mỗi bài thơ mười đồng, “mỗi tháng Tản Đà được một trăm bạc, trong lúc gia cảnh quẫn bách, thực không phải là số tiền nhỏ. Với số tiền ấy, thi sĩ có thể thanh toán được mọi công việc. Tiền thuốc không phải lo, tiền gạo không phải chạy. Tưởng như vậy thật là một dịp may rất hiếm, mà người trong cảnh tất phải lấy làm sung sướng, ưng thuận lời yêu cầu của người đã mến tài mình. Nhưng trái lại, sau một đêm nghĩ ngợi, Tản Đà đã viết một bức thư trả lời Nguyễn Văn Vĩnh, thoái thác không chịu nhận làm trợ bút cho báo Trung Bắc tân văn.” Ông nói nếu ra góp mặt với đời, “thời tự mình phải đứng chủ trương một cơ quan ngôn luận để hoàn toàn thực hành những quan niệm về văn chương, sẽ trình bày những lý tưởng của mình noi theo với quốc dân”. Nếu viết giúp phụ thuộc vào cơ quan đó, những tư tưởng, quan niệm riêng về xã hội, văn chương, sẽ không thể làm theo như ý muốn của mình được. “Vả lại, ông Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà văn đã có tiếng, nếu viết cho tờ báo ông, dư luận độc giả sẽ cho tôi là đi theo để ăn cánh với ông. Đó là một điều mà tôi kỵ nhất. Bởi những lẽ đó, mà dù túng thiếu, đói rét, tôi cũng không chịu làm trái với tư tưởng của mình”. Khí chất của Tản Đà là vậy. (Nguyễn Văn Phúc - Tôi và Tản Đà - Tản Đà về tác giả tác phẩm, trang 74, 75, NXB Giáo dục, 2001).

Thế nhưng cuộc đời nhà thơ là một chuỗi dài những thất bại, thi hỏng - không màng đến làm quan, quyết chí làm báo để làm văn chương nghệ thuật. Nhưng “An Nam tạp chí (của ông) ra đời, lại thất bại, rồi lại ra đời, lại thất bại, khiến cho nhà thi sĩ phải bôn tẩu long đong nay Bắc, mai Nam. Con tạo hóa có lẽ cũng ghét ghen kẻ có tài, nên hay trêu cợt khách văn chương”. (Nguyễn Văn Phúc). Ông cũng từng dạy Hán văn, mở phòng xem tử vi để sống, nhưng không nuôi nổi đời mình. Tuy vậy, cái uy tín của Tản Đà thời ấy lớn lắm. Một người như Phan Khôi mà hạ bút viết: “Tôi biết ông Nguyễn Khắc Hiếu từ năm 1918, khi tôi bắt đầu ở Hà Nội viết cho Tạp chí Nam Phong. Một đêm mùa xuân lạnh ngắt, tôi đương nằm đọc sách ở cái gác của nhà báo ấy ở Hàng Bông, tức là ngụ sở của ông Nguyễn Bá Trác bấy giờ. Bỗng có khách vào. Ông Trác giới thiệu cùng tôi: Đây, ông Nguyễn Khắc Hiếu. Tôi như có điện chạy trong người, ghê rợn, vùng đứng dậy! Thật thế. Cái tên Nguyễn Khắc Hiếu bấy giờ không phải vừa, đối với tôi lại càng long trọng lắm. Tôi nghe mà rùng rợn lên, có thế thật.” (Phan Khôi: Tôi với Tản Đà thi sĩ - Tao đàn số 9 - 10 - 1939).

Cái “ngông” của Tản Đà cũng rất chi là độc đáo: “Gánh văn lên bán Chợ Giời, gửi thư lên thiên đình cầu hôn, xuống bể Sầm Sơn bơi đứng và ăn hải sản sống, lên rừng tịch cốc, uống rượu sâm banh với nem chua trên toa xe lửa tốc hành, đi thăm mả Vua Tây Sơn với cái lối khấn ngang tàng: “Bắc Kỳ Sơn Tây - nhân Nguyễn Khắc Hiếu kinh quá thử địa” (Nguyễn Tuân - Tản Đà, một kiếm khách - Tao Đàn tháng 7 - 1939).

Cái ngông của Tản Đà làm cho nhiều người khó ưa. Ông Lưu Trọng Lư viết: “Thật ra, không phải chỉ trong sự ăn hay trong một câu chuyện, ở đâu tiên sinh cũng biết làm cho người đời khó chịu. Người ta lại kể cho tôi một câu chuyện nữa về tiên sinh. Bấy giờ, tiên sinh vừa dọn về một tỉnh nọ. Mà đồng thời, một vị thủ hiến, cũng vừa tới nhậm chức ở tỉnh ấy. Một ông quan to lại có lòng liên tài, nghe tiếng thi nhân, ở trong tỉnh hạt, bèn cho người - hình như là một ông huyện - đến vời tiên sinh vào để cùng được ngồi uống rượu với tiên sinh. Nhưng tiên sinh rất điềm nhiên nói với viên sứ giả:

- Tôi rất cảm ơn cụ lớn, nhưng người làm ơn về nói với cụ lớn rằng: nếu như cụ lớn - một ông quan thủ hiến muốn đòi tên dân Nguyễn Khắc Hiếu lên tỉnh, xin có trát, tôi sẽ đi ngay. Chứ như nếu là quan thủ hiến là một kẻ nhân đọc thơ văn của tôi mà có bụng liên mến, thì, tôi xin mời cụ lớn phải đến đây, dẫu chỉ là một túp nhà cỏ, để được cho tôi hầu rượu. Thế rồi tiên sinh nhất định không đi. Thật là người ta không thể kiêu ngạo và khó chịu hơn thế được”. (Lưu Trọng Lư, Giờ đây, khi nắp quan tài đậy lại - Tao đàn số tháng 7 - 1939)

Cuối đời, nhà thơ rơi vào cảnh thiếu thốn, khổ nghèo, bệnh hoạn, rồi giã từ nhân thế trên một căn gác xép ở Ngã Tư Sở Hà Nội khi vừa tuổi tri thiên mệnh (50) vào ngày 7/6/1939, nhưng để lại sự nghiệp văn chương đánh dấu mốc - một gạch nối sừng sững trong lịch sử văn học nước nhà. Nhiều người đã quý trọng viết bài thương tiếc về con người “Tài cao, phận thấp, chí khí uất/ Giang hồ mê chơi quên quê hương” ấy. (Thăm mả cũ bên đường). Thiết nghĩ, cuộc đời, bao gồm cả sự nghiệp và tiết tháo của thi sĩ Tản Đà không chỉ có ý nghĩa đối với ngày hôm qua?

Võ Nguyên .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/si-khi-nha-tho-444919.html