Phát triển vùng nguyên liệu cho xăng E10
Theo các chuyên gia, các dự án sản xuất ethanol đều có quy mô đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài từ 10 đến 20 năm. Vì vậy, doanh nghiệp chỉ sẵn sàng đầu tư khi có lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học rõ ràng, minh bạch và ổn định trong dài hạn.

Đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cho xăng E10. Ảnh: VGP
Dư địa lớn phát triển nguồn nhiên liệu
Bà Vũ Thiên Hương - Tổng Thư ký Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho biết, những biến động địa chính trị đang khiến chi phí logistics, giá cước vận tải biển và việc thuê tàu liên tục thay đổi, làm gia tăng rủi ro đối với các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu nhiên liệu ethanol E100. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay cần kết hợp hài hòa giữa nguồn ethanol sản xuất trong nước và nguồn nhập khẩu để bảo đảm nguồn cung ổn định cho thị trường.
Một trong những vấn đề được quan tâm là khả năng bảo đảm nguồn nguyên liệu khi ethanol hiện chủ yếu được sản xuất từ sắn, ngô và một số nông sản khác. Theo bà Hương, thời tiết là biến số chung của ngành nông nghiệp trên toàn cầu. Tuy nhiên, rủi ro về nguồn nguyên liệu hoàn toàn có thể được kiểm soát nếu DN chủ động dự báo nhu cầu, đa dạng hóa nguồn cung và xây dựng kế hoạch thu mua, dự trữ phù hợp.
Bà Hương cho biết, Việt Nam vẫn còn dư địa rất lớn về nguyên liệu. Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,5 triệu tấn sắn. Chỉ riêng lượng sắn này đã tương đương khoảng 150% nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy ethanol đang hoạt động trong nước. Ngoài nguồn nguyên liệu trong nước, DN còn có thể bổ sung sắn từ Lào, Campuchia cũng như sử dụng các nguyên liệu khác như mía, ngô... Việc đa dạng hóa nguồn đầu vào sẽ giúp ngành ethanol duy trì sản xuất ổn định trước các biến động của thời tiết và thị trường.
Liên quan đến phương án bảo đảm nguồn cung khi nhu cầu phối trộn tăng nhanh, bà Hương cho rằng nhập khẩu ethanol không nên được xem là giải pháp tình thế mà là một cấu phần của chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng. Hiện, Việt Nam có 3 nhà máy ethanol đang hoạt động, đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thị trường. Dự kiến, đến cuối năm 2026, khi có thêm 2-3 nhà máy vận hành trở lại, tỷ lệ đáp ứng từ nguồn cung trong nước sẽ tăng lên khoảng 30-35%. “Việt Nam không nhất thiết phải tự chủ 100% nguồn cung ethanol mà cần duy trì tỷ lệ nhập khẩu hợp lý để đa dạng hóa nguồn cung, bảo đảm an ninh năng lượng và cân bằng thương mại với các đối tác chiến lược” - bà Hương nhấn mạnh.
Cần sự ổn định và nhất quán của chính sách
Theo Tổng thư ký Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngành ethanol là sự ổn định và nhất quán của chính sách. Các dự án sản xuất ethanol đều có quy mô đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài từ 10 - 20 năm. Vì vậy, DN chỉ sẵn sàng đầu tư khi có lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học rõ ràng, minh bạch và ổn định trong dài hạn.
Do đó, các chính sách hỗ trợ không nhất thiết phải là ưu đãi trực tiếp, mà cần được triển khai đồng bộ từ phát triển vùng nguyên liệu bền vững, khuyến khích nghiên cứu công nghệ chế biến sâu đến xây dựng hệ thống phân phối, kết nối hiệu quả giữa nông dân, DN sản xuất ethanol và DN kinh doanh xăng dầu.
Về phía Hiệp hội, nhiều mô hình hợp tác giữa DN đầu tư nông sản, đơn vị phát triển vùng nguyên liệu và các nhà máy ethanol đang được thúc đẩy nhằm hình thành chuỗi liên kết từ vùng trồng đến chế biến.
“Các cam kết hợp tác dài hạn sẽ giúp người nông dân yên tâm đầu tư sản xuất, DN chủ động nguồn nguyên liệu với chất lượng đồng đều, đồng thời tạo điều kiện để các nhà máy ethanol vận hành liên tục, giảm chi phí sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của ngành nhiên liệu sinh học Việt Nam” - bà Hương nhấn mạnh.
PGS.TS Phạm Hữu Tuyến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội) nêu quan điểm, Hoa Kỳ là quốc gia triển khai chương trình phát triển nhiên liệu sinh học rất hiệu quả đối với cả xăng sinh học và diesel sinh học. Trong đó, xăng E10 hiện là loại nhiên liệu phổ biến nhất. Bên cạnh đó còn có các loại E15 và E85 để người tiêu dùng lựa chọn. Để làm được điều này, Hoa Kỳ đã xây dựng chính sách phát triển vùng nguyên liệu ngô từ rất sớm, bởi đây là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ethanol.
Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan cũng là quốc gia có nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo. Hiện nay, khoảng 80% lượng xăng tiêu thụ trên thị trường nước này là xăng E10, trong khi xăng E20 cũng chiếm khoảng 16-17%. Thành công đó dựa trên lợi thế về nguồn nguyên liệu sắn và rỉ đường cùng hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ.
Từ các mô hình quốc tế có thể thấy, yếu tố quyết định thành công chính là phát triển được nguồn nguyên liệu bền vững. Tuy nhiên, để xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định cần có hệ thống chính sách hỗ trợ dài hạn, nhất quán, không chỉ đối với sản xuất nguyên liệu mà còn cho toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất ethanol, pha chế, phân phối đến tiêu thụ.
Để chủ động bảo đảm nguồn cung xăng dầu phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong những tháng cuối năm 2026, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) yêu cầu các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu thực hiện nghiêm túc, đầy đủ tổng nguồn xăng dầu tối thiểu năm 2026 đã được Bộ Công thương phân giao, bảo đảm cả về số lượng và chủng loại; đồng thời thực hiện đúng kế hoạch tổng nguồn theo quý đã đăng ký.
Đối với toàn bộ hệ thống phân phối, Cục yêu cầu các thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối tập trung nguồn lực bảo đảm cung cấp đầy đủ xăng dầu trên địa bàn có hệ thống phân phối, đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa như Điện Biên, Lào Cai và Tuyên Quang.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/phat-trien-vung-nguyen-lieu-cho-xang-e10.html











