Paul Rosbaud - khi điệp viên cũng là nhà khoa học
Tháng 11/1896. Paul Rosbaud theo học trường dạy nghề trong thành phố nhưng đến tháng 3/1915 thì ông nhập ngũ với tư cách binh nhì trong quân đội Áo. Tới tháng 10/1917, ông tham gia chiến đấu trong trận đánh Caporetto. Paul Rosebud phục vụ trong quân đội cho đến cuối Thế chiến I và bị quân Anh bắt giữ.
Ông Owen Boycott (người viết tiểu sử về Paul Rosbaud) nói, “Kinh nghiệm của Paul Rosbaud đã thu hút sự chú ý của người Anh và bị họ bắt giữ, đồng thời sự trân trọng của ông đối với sự bặt thiệp của người Anh đã gây nên một ấn tượng sâu sắc”.
Sau này Rosbaud nhớ lại: “2 ngày đầu làm tù binh dưới tay lính gác ngục Anh chính là khởi đầu cho tình yêu Anh quốc lâu dài của tôi. Đối với binh sĩ Anh, chiến tranh đã kết thúc và quên phứt nó đi. Họ không đối xử chúng tôi như kẻ thù mà chỉ là những người bại trận kém may mắn”. Rosbaud học hóa học tại Viện Kaiser Wilhelm ở Berlin, nơi ông đi tiên phong trong lĩnh vực quay phim bằng tia X. Tiếp đó ông lấy bằng Tiến sĩ tại Đại học Kỹ thuật.

Nhà khoa học, điệp viên Paul Rosbaud (1896-1963).
Cố vấn khoa học trong thời Đức Quốc xã
Paul Rosbaud trở thành cố vấn cho Springer Verlag, một trong những nhà xuất bản lớn nhất nước Đức, điều này vô hình trung giúp ông quan hệ rộng với các nhà khoa học hàng đầu Đức, cũng như chu du sang nhiều nước Âu Châu và làm bạn với các nhà khoa học tài danh như John Desmond Bernal (nhà khoa học người Ireland đi đầu trong việc sử dụng tinh thể học X-quang trong sinh học phân tử), Geoffrey Pyke (nhà báo, nhà giáo dục, kiêm nhà phát minh người Anh), và Eric Rideal (nhà hóa lý nổi tiếng người Anh). Sau đó ông kết hôn với Hildegard Frank, vốn là con gái của một thương nhân gỗ gốc Do Thái giàu có. Họ có chung một con gái tên là Agelika Anna Rosbaud (sinh khoảng tháng 8/1927) và được cha rất cưng chiều.
Thời kỳ đó Paul Rosbaud được mô tả, “vóc người nhỏ thó với những đường nét sắc sảo; những ngón tay của một nghệ sĩ hòa tấu dương cầm; giọng nói mềm mại, mạnh mẽ; người hiếm khi xuất hiện mà thiếu đi cái tẩu thuốc lá”. Trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 11/1932, đảng Quốc xã giành chiến thắng áp đảo với 196 ghế.
Điều này không mang lại cho họ đa số tuyệt đối vì phe đối lập cũng đạt được kết quả tốt: đảng Dân chủ xã hội (121 ghế), Đảng cộng sản Đức (100 ghế), đảng trung dung Công giáo (90 ghế) và Đảng nhân dân quốc gia Đức (52 ghế). Tháng 1/1933, Adolf Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng nhưng đảng Quốc xã chỉ có 1/3 số ghế trong Quốc hội Đức.
Hermann Mark (một người bạn của Paul Rosbaud) chỉ ra: “Paul ngày càng trở nên thù địch với chế độ ở Đức. Có vài dịp chúng tôi gặp nhau ở Đức, Anh hay Áo, ông ấy đều chỉ trích gay gắt hay đưa ra những lý lẽ chính đáng để chống lại Đức Quốc xã (ĐQX). Paul nằm trong số ít người có thể đưa ra những dự báo rất rõ ràng: chúng tôi hay có những buổi thảo luận dài hơi về những gì người ta có thể và nên làm về chúng.
Vài người bạn Anh như các ông John Desmond Bernal, Geoffrey Pyke, Eric Rideal cũng góp mặt trong một số dịp nhất định”. Paul Rosbaud càng trở nên lo ngại hơn khi Luật Nuremberg về công dân và chủng tộc được thông qua vào năm 1935. Theo đó Luật quốc tịch đầu tiên của đế chế đã chia người dân Đức thành hai loại: Công dân có “huyết thống thuần Đức” và phần dân số còn lại.
Luật bảo vệ dòng máu và danh dự Đức đã cấm kết hôn giữa hai nhóm người này. Khoảng 250 sắc lệnh đã được ban hành sau khi các luật này ra đời. Các sắc lệnh đó đã loại trừ người Do Thái ra khỏi các chức vụ và chuyên môn chính. Paul Rosbaud lo lắng cho sự an toàn của vợ và đã liên hệ với Frank Foley (Giám đốc Văn phòng kiểm soát thị thực) tại Đại sứ quán Anh ở Berlin.
Rosbaud cũng trở thành thành viên của Cơ quan Tình báo quân đội Anh (MI.6) và điều hành mạng lưới gián điệp bên trong lòng ĐQX. Về tình trạng bài Do Thái đang gia tăng tại Đức, tại trụ sở MI6, Frank Foley nói: “Ngày càng rõ ràng việc đảng quốc gia không từ bỏ ý định ban đầu và mục tiêu loại bỏ người Do Thái khỏi nước Đức. Nếu không làm được việc này, họ sẽ bị đẩy vào thế bị cho là bất lực, thấp kém”.
Frank Foley nhấn mạnh: “Những dấu hiệu về sự tái bùng phát chủ nghĩa bài Do Thái đã được thể hiện qua những biện pháp lập pháp gần đây: các quy dịnh về việc tiếp nhận những ngành nghề tự do, tẩy chay những hoạt động của người Do Thái; gia tăng tính độc hại trong các bài phát biểu của những thành viên lãnh đạo đảng”. Adolf Hitler khuyến khích người Do Thái di cư sang Palestine bằng cách cho phép “Những người Do Thái rời đi Palestine sẽ được chuyển một phần tài sản đến đó… trong khi những người sang các nước khác phải bỏ lại phần lớn tài sản của mình”.
Nhà văn Richard Evans lập luận: “Lý do khiến ĐQX ưu ái cho người di cư đến Palestine xem ra rất phức tạp. Một mặt họ coi phong trào phục quốc là một phần đáng kể của âm mưu Do Thái thế giới mà họ đã dành cả cuộc đời để phá hủy. Mặt khác, giúp người Do Thái di cư sang Palestine có thể làm giảm bớt sự chỉ trích quốc tế về những biện pháp bài Do Thái trong nước Đức”.

Vợ chồng Paul Rosbaud với nhà vật lý hạt nhân Samuel Goudsmit trong bức ảnh chụp năm 1961.
Chính sách của chính phủ Anh là hạn chế cho người Do Thái di cư sang Palestine. Ông Benno Cohen (chính trị gia người Israel) chỉ ra rằng Frank Foley không muốn thực hiện chỉ thị của mình. Ông Cohen giải thích: “Đại úy Foley đã tận dụng quyền lực của mình một cách phóng khoáng đến mức nhiều người có thể bị từ chối nếu hiểu theo cách nghiêm ngặt hơn về những mệnh lệnh thì đã được cấp thị thực đáng mơ ước tới Palestine. Lần đầu gặp Frank Foley vào năm 1933, Paul Rosbaud nhớ lại: “Khi mối quan hệ giữa tôi và ông ấy trở nên tin nhau hơn, tôi bắt đầu chia sẻ với Foley những thông tin vụn vặt, đôi khi quan trọng, đôi khi không”.
Họ có nhiều điểm chung, cùng căm ghét Hitler và muốn làm mọi cách để giúp người Do Thái. Họ cũng đi chiến đấu trong thời Thế chiến I và “không mong chứng kiến một cuộc chiến mới”. Bí danh hoạt động của Paul Rosbaud là “The Griffin” (Chim Ưng). Một buổi sáng trong tháng 4/1938, Rosbaud gặp Frank Foley và hỏi liệu có cách nào sắp xếp cho vợ và con gái ông sống ở London hay không.
Ngay tức khắc Foley liền cung cấp cho họ giấy tờ cần thiết và vài ngày sau đó họ lên máy bay Deutsche Lufthansa tại phi trường Tempelhof và hạ cánh xuống Croydon 4 tiếng rưỡi sau đó. Ông Robert Salmon Hutton (người bạn thân của Paul Rosbaud) đã giúp bà Hildegard Rosbaud hoàn tất các thủ tục nhập cư và xin giấy phép lao động.
Gián điệp thời chiến
Paul Rosbaud ở lại Đức và tiếp tục giúp Frank Foley do thám các hoạt động. Foley giới thiệu Rosbaud gặp được Lise Meitner - người đã làm việc với Otto Hahn và Fritz Strassman nhắm vào những cuộc điều tra các sản phẩm của quy trình bắn neutron của uranium. Rosbaud cùng với Hahn và Strassman bắt tay vào phân tách nguyên tử dọn đường cho việc khai sinh ra bom nguyên tử.
Rosbaud đã chuyển thông tin quan trọng này cho Frank Foley và trong suốt chiến tranh, Rosbaud cũng thường xuyên cập nhật cho Cục tình báo mật của Anh (SIS) về tiến độ thực hiện chương trình vũ khí nguyên tử của Đức. Lise Meitner là người Do Thái và sau khi bà bị ĐQX cấm làm việc, Rosbaud đã giúp bà trốn khỏi nước Đức. Ngày 12/7/1938, Paul Rosbaud đưa Meitner đến nhà Hahn để ngủ qua đêm. Hahn không có ô tô nên ngày hôm sau Paul đã đón bà bằng chính chiếc Opel của mình.
Bà Meitner trong trạng thái căng thẳng và sợ hãi, Rosbaud phải vận dụng hết khả năng thuyết phục của mình để đưa bà đi khỏi nước Đức bằng tàu hỏa. Khi ra khỏi Đức, bà sống ở Stockholm. Otto Hahn tiếp tục cung cấp cho Rosbaud nhiều thông tin về phát triển vật lý hạt nhân của Đức, chẳng hạn như “Ý tưởng về việc sử dụng năng lượng này, hoặc giả định về một cơ chế phản ứng dây chuyền tạo ra một quả bom khổng lồ; hay cho một nguồn năng lượng lớn…. lần đầu tiên do Hahn đưa ra".
Rosbaud báo cáo rằng Bernard Rust đã chỉ đạo các nhà khoa học của mình tìm tòi ý tưởng chế ra một quả bom có thể hủy diệt cả thành phố, một tỉnh thành, và thậm chí thổi bay cả hòn đảo. Người ta cho rằng có lẽ sớm hơn bất kỳ nhà khoa học nào, Rosbaud đã nhận ra tiềm năng hủy diệt rộng lớn của thứ mà Hahn, Strassmann và Meitner đã khám phá, đồng thời nhận thức sâu sắc rằng nghiên cứu cơ bản đã được thực hiện ở Đức.

Frank Foley, giám đốc Văn phòng kiểm soát thị thực tại Đại sứ quán Anh ở Berlin.
Rosbaud muốn phần còn lại của thế giới biết về tầm quan trọng của công trình này hay chí ít là sớm như các nhà hoạch định của ĐQX đã làm. Năm 1939, Rosbaud thường xuyên đến London để gặp gỡ Robert Salmon Hutton - giáo sư về luyện kim của Đại học Cambridge. Ông Hutton sau này nhớ lại: “Ông ấy (Paul Rosbaud) hỏi tôi về việc gặp nhau ở London khi ông đề nghị tôi chuyển tải thông tin quý giá này đến những người quan tâm nhất. Rõ ràng Hitler đã cân nhắc khả năng chế tạo bom nguyên tử như loại vũ khí bí mật số 1 của ông ta, song điều này phải gác lại vì chỉ có các nhà vật lý Đức mới có thể giúp đỡ hiệu quả, nên tôi đã từ chối hợp tác. Theo cách này hay nhiều cách khác, Paul Rosbaud đã phục vụ đắc lực cho phe Đồng Minh”.
Paul Rosbaud khước từ việc sống ở London với vợ con vì cho rằng mình có thể giúp đỡ nhiều hơn trong việc lật đổ chính quyền ĐQX nếu tiếp tục ở lại Đức. Theo nhà vật lý hạt nhân người Mỹ, Arnold Kramish, thì Paul Rosbaud là tác giả của Báo cáo Oslo gửi cho Frederick Winterbotham (sĩ quan Không quân Hoàng gia Anh) vào ngày 1/11/1939. Tuy nhiên, Kramish tin rằng Rosbaud chưa được ghi nhận đầy đủ công lao cho công trình của mình nên đã bác bỏ việc ông Hans Ferdinand Mayer là tác giả.
Winterbotham đã chuyển Báo cáo Oslo cho R.V.Jones - người chịu trách nhiệm điều phối tình báo khoa học trong Thế chiến II, có đoạn: “Báo cáo này rõ ràng được viết bởi người có nền tảng kỹ thuật và khoa học tốt, nó hoàn toàn khác biệt so với bất kỳ thứ gì tôi đã được tiếp cận trong tạp chí tình báo”. Sau đó ông Jones tuyên bố rằng những đóng góp của Rosbaud là đáng kể, chí ít là trong năng lượng hạt nhân, đã đạt đến mức quan trọng.
Xuyên suốt cuộc chiến, hàng tháng Rosbaud đều đặn gửi Báo cáo Oslo, mỗi báo cáo đều có nhiều thông tin. Phần lớn thông tin của Rosbaud tuồn ra ngoài thông qua các mạng lưới kháng chiến Na Uy và Pháp. Mỗi thông điệp được mã hóa đã được gửi đi bằng cách dùng những tham chiếu số đến các trang, dòng, và chữ trong các sách giáo khoa phổ thông.
Năm 1943, Rosbaud cung cấp cho Frank Foley về việc phát triển một loại vũ khí mới đang được chế tạo ở một cơ sở thử nghiệm vũ khí đặt tại Peenemunde (Đông Bắc nước Đức). Rosbaud tuyên bố dự án này đặt dưới sự chỉ đạo của Wemher von Braun, đã tạo ra tên lửa, là loại tên lửa đẫn đường đầu tiên vượt qua tốc độ âm thanh. Tên lửa nhiên liệu lỏng dài 13,7m này mang đầu đạn nặng 1 tấn, có khả năng đạt tốc độ siêu thanh và có thể bay ở độ cao hơn 50 dặm. Tên lửa V2 lần đầu tiên sử dụng trong tháng 9/1944.
Hơn 5.000 tên lửa V2 đã được nhắm bắn vào Anh, song do những cuộc không kích lớn của Không quân Hoàng gia Anh (RAF) nên quân Đức buộc phải rút các căn cứ tên lửa về Ba Lan. Ba tuần sau khi Thế chiến II kết thúc, Paul Rosbaud quay về Anh và đến năm 1948, ông đã giúp Robert Maxwell thành lập nhà xuất bản Pergamon. Sau này Rosbaud giữ nhiều chức vụ cố vấn cho các nhà xuất bản Châu Âu; năm 1961, Viện vật lý Hoa Kỳ (AIP) đã trao cho ông Huân chương Tate đầu tiên vì những cống hiến của ông cho việc xuất bản khoa học. Paul Rosbaud qua đời vì bệnh bạch cầu vào ngày 28/1/1963.












