Những điểm nhấn nổi bật kinh tế thế giới năm 2025
Kinh tế thế giới trải qua năm 2025 với nhiều biến động với cuộc chiến thuế quan bùng nổ, trí tuệ nhân tạo (AI) thu hút làn sóng đầu tư, tình hình địa chính trị vẫn đầy bất ổn...

Tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu có mức chững nhẹ trong năm 2025 - Ảnh minh họa
Tăng trưởng GDP được duy trì nhưng dễ tổn thương
Dù chính sách tại nhiều nền kinh tế lớn thay đổi nhanh và bất định địa chính trị kéo dài, nền kinh tế thế giới năm 2025 vẫn giữ được đà tăng trưởng trong trạng thái chống chịu mong manh.
Theo báo cáo “Triển vọng Kinh tế Thế giới” (WEO) của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) được xuất bản tháng 7/2025 và tháng 10/2025, tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu ở mức 3,0 – 3,1%, thấp hơn mức 3,2% của năm 2024. Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu có mức chững nhẹ, phản ánh những áp lực dai dẳng từ nợ cao, lạm phát và gián đoạn thương mại do thương chiến Mỹ – Trung.
Báo cáo “Tình hình và Triển vọng Kinh tế Thế giới” xuất bản tháng 9/2025 của Vụ Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc (UNDESA) đã đưa ra dự báo thận trọng hơn, với tăng trưởng toàn cầu khoảng 2,5% cho trong năm 2025, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình dài hạn toàn cầu trước đại dịch Covid‑19 (khoảng 3,5 – 4,02%). UNDESA cho rằng tăng trưởng toàn cầu bị kìm hãm bởi đầu tư yếu, thương mại chậm và nợ cao. Mặc dù IMF và UNDESA đã đưa ra các con số khác nhau, nhưng cả hai đều có sự đồng thuận trong việc phản ánh thực trạng “hồi phục yếu” hoặc “tăng trưởng chững lại” của nền kinh tế thế giới. Những yếu tố thuận lợi ngắn hạn như các chính sách kích thích tài khóa hoặc nới lỏng lãi suất ở một số quốc gia, chưa thể bù đắp được các rủi ro dài hạn từ nợ cao, lạm phát, và bất ổn địa chính trị.
Về tăng trưởng theo khu vực, nhóm nền kinh tế tiên tiến bao gồm khu vực Bắc Mỹ và châu Âu, IMF dự báo tăng trưởng GDP là 1,6% cho năm 2025. Trong đó, riêng Mỹ được dự báo tăng trưởng khoảng 2,0%, còn khu vực châu Âu được dự báo tăng trưởng khoảng 1,2% năm 2025. Những con số này phản ánh việc khu vực Bắc Mỹ và châu Âu đang hồi phục chậm – một phần do lạm phát dai dẳng, chi phí vay cao, và môi trường chính sách tiền tệ thắt chặt của Fed.
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương được dự báo tăng trưởng khoảng 4,5% trong năm 2025, mức tăng trưởng khá cao so với trung bình nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, IMF cũng cảnh báo sự không đồng đều về tốc độ tăng trưởng giữa các quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Các nền kinh tế lớn như Ấn Độ hoặc Trung Quốc được dự đoán sẽ có mức tăng trưởng 5 – 6,5%, trong khi các nền kinh tế nhỏ hơn tăng trưởng thấp bởi khả năng xuất khẩu yếu.
Nguyên nhân chủ yếu khiến tăng trưởng toàn cầu thấp bao gồm nợ công cao, chi phí tín dụng và lãi suất vẫn duy trì ở mức cao, bảo hộ thương mại và gián đoạn chuỗi cung ứng, cùng tác động từ biến đổi khí hậu, thiên tai và xung đột địa chính trị. Tình trạng này dẫn đến nhiều rủi ro kinh tế, như thị trường lao động căng thẳng, dòng vốn FDI và thương mại quốc tế giảm, áp lực lên chính sách vĩ mô của các quốc gia tăng, và tăng trưởng vẫn nằm dưới tiềm năng.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cũng đánh giá kinh tế thế giới vẫn duy trì được tăng trưởng trong năm 2025 nhưng dễ tổn thương vì các điểm rào cản tích tụ. Trong báo cáo công bố đầu tháng 12/2025, OECD cho rằng kinh tế toàn cầu đã thể hiện sức bền trong năm qua, song rủi ro vẫn lớn, nhất là khi tác động đầy đủ của thuế quan cao hơn chưa phản ánh hết vào chi phí doanh nghiệp và giá tiêu dùng. Trong khi đó, bất định chính sách tiếp tục kìm hãm đầu tư.
Năm định hình của trí tuệ nhân tạo (AI)

AI từ một công cụ xa xỉ đã trở thành tiện ích đại chúng - Ảnh minh họa
Không còn là đặc quyền của những “gã khổng lồ” sở hữu ngân sách nghìn tỷ USD, AI trong năm 2025 đã len sâu vào mọi tầng nấc của đời sống kinh tế-xã hội, kích hoạt một cuộc cạnh tranh chưa từng có về chi phí, hiệu năng và giá trị ứng dụng thực tiễn.
Điểm nhấn lớn nhất của năm 2025 chính là sự sụp đổ của các rào cản tài chính, biến AI từ một công cụ xa xỉ thành tiện ích đại chúng. Chi phí suy luận (inference) đã giảm kinh ngạc tới 280 lần so với năm 2022, nhờ sự tối ưu hóa thuật toán và kiến trúc Mixture of Experts (MoE). Chi phí phần cứng AI đã giảm trung bình khoảng 30% mỗi năm, trong khi hiệu suất tính toán tiếp tục tăng gấp đôi theo chu kỳ ngắn hơn, tạo tiền đề cho sự bùng nổ của các mô hình nhỏ gọn nhưng hiệu quả vượt trội. Động lực của làn sóng này không chỉ đến từ phương Tây mà còn từ "cơn địa chấn" mã nguồn mở của phương Đông với những cái tên như DeepSeek hay Alibaba, phá vỡ thế độc tôn và buộc các "ông lớn" phải thay đổi chiến lược từ "đốt tiền" sang tối ưu hóa hiệu quả.
Tác động nhìn thấy rõ là mức độ thẩm thấu sâu rộng vào cấu trúc doanh nghiệp. Với hơn 70% doanh nghiệp toàn cầu tích hợp AI vào quy trình cốt lõi, công nghệ này không còn là công cụ thử nghiệm mà đã trở thành "lớp giao diện" mới giữa con người và thế giới số. Từ những văn phòng hiện đại tại Mỹ đến các trang trại thông minh ở châu Phi, AI đang xóa nhòa khoảng cách năng lực, biến kỹ năng cộng tác với máy móc trở thành tiêu chuẩn bắt buộc của lực lượng lao động toàn cầu.
Hệ quả tất yếu của cuộc cách mạng về giá thành là sự bùng nổ cả về quy mô thị trường lẫn mức độ chấp nhận của người dùng. Grand View Research ước tính thị trường AI toàn cầu năm 2025 đạt khoảng 390 tỷ USD, tăng mạnh so với mức hơn 300 tỷ USD của năm 2024. Trong khi đó, các tổ chức như Precedence Research và PitchBook định giá quy mô thị trường ở mức cao hơn, thậm chí vượt mốc 750 tỷ USD nếu tính cả các dịch vụ và ứng dụng liên quan.
Ở cấp độ người dùng, Business Insider ghi nhận ChatGPT và các nền tảng tương tự đã thu hút hơn 800 triệu người dùng hoạt động hằng tuần, tương đương hơn 10% dân số trưởng thành toàn cầu. AI không còn là công cụ thử nghiệm, mà đang trở thành một lớp giao diện trung gian mới giữa con người và thế giới số.
Sự thay đổi chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn

Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt của chu kỳ chính sách tiền tệ toàn cầu - Ảnh minh họa
Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt của chu kỳ chính sách tiền tệ toàn cầu. Sau giai đoạn thắt chặt để kéo lạm phát đi xuống, phần lớn các ngân hàng trung ương chuyển sang nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng và hướng tới kịch bản “hạ cánh mềm”. Tính tới ngày 23/12/2025, có 9 trong số 10 ngân hàng trung ương của các đồng tiền được giao dịch nhiều nhất thế giới đã giảm lãi suất trong năm 2025 với với tổng cộng 32 lần giảm, tương ứng 8,5 điểm phần trăm - lượng nới lỏng lãi suất hàng năm lớn nhất trong hơn một thập kỷ. Riêng Nhật Bản là ngoại lệ khi tăng lãi suất hai lần.
Tại Mỹ, Cục Dự trữ liên bang (Fed) đã ba lần hạ lãi suất trong năm 2025. Quyết định ngày 10/12/2025 của Fed giảm 0,25 điểm phần trăm đưa biên độ lãi suất mục tiêu xuống 3,5-3,75%, đồng thời phát tín hiệu thận trọng về nhịp điều chỉnh tiếp theo. Ở khu vực đồng Euro, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cắt lãi suất theo từng bước trong nửa đầu năm, đưa lãi suất tiền gửi về 2% từ tháng 6 rồi giữ ổn định, phản ánh niềm tin lớn vào xu hướng hạ nhiệt lạm phát nhưng vẫn thận trọng với các rủi ro bên ngoài. Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) cũng đi theo hướng nới lỏng, hạ lãi suất cơ bản từ 4,75% cuối năm 2024 xuống 3,75% vào ngày 18/12/2025, thông qua các đợt giảm 0,25 điểm phần trăm trong năm.
Ở châu Á, bức tranh phân hóa rõ rệt hơn. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) là ngoại lệ khi nâng lãi suất lên 0,75% vào tháng 12 - mức cao nhất trong khoảng 30 năm - sau khi đà tăng của giá cả và tiền lương trở nên rõ nét hơn, tạo cơ sở để BOJ tiếp tục bình thường hóa chính sách. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) thiên về hỗ trợ tăng trưởng bằng các công cụ định hướng như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ giữa tháng 5 nhưng giữ lãi suất cho vay cơ bản kỳ hạn 1 năm ở mức 3% và kỳ hạn 5 năm ở mức 3,5% trong nhiều tháng liên tiếp. Điều này cho thấy Bắc Kinh ưu tiên sự ổn định và có sự thận trọng về dư địa chính sách.
Nợ toàn cầu lập kỷ lục mới

Nợ công của thế giới đang ở mức cao kỷ lục - Ảnh minh họa
Theo báo cáo “Báo cáo nợ toàn cầu 2025” của OECD, tổng nợ trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp toàn cầu đã vượt 100 nghìn tỷ USD vào năm 2024 và được dự báo tiếp tục tăng trong năm 2025. Các quốc gia phát triển tiếp tục gánh mức nợ cao, trong khi nhiều nền kinh tế mới nổi cũng phải vay nợ để duy trì đầu tư cơ sở hạ tầng và kích thích tăng trưởng.
Theo số liệu mới nhất của Viện Tài chính quốc tế (IIF) đến hết quý 3/2025, tổng nợ toàn cầu (gồm nợ chính phủ, nợ doanh nghiệp và nợ hộ gia đình) là 345,7 nghìn tỷ USD, tương đương khoảng 310% GDP toàn cầu. Đà tăng chủ yếu đến từ nợ chính phủ tại các nền kinh tế phát triển, trong bối cảnh thâm hụt ngân sách cao và nhu cầu chi tiêu lớn. Trong đó, Mỹ và Trung Quốc là hai nguồn đóng góp lớn vào mức tăng nợ công trong năm.
Ở các nền kinh tế lớn, gánh nặng nợ chính phủ cho thấy dư địa tài khóa ngày càng co hẹp. Theo báo cáo của IMF, nợ công của Nhật Bản tương đương khoảng 229,6% GDP, Mỹ khoảng 125% GDP, Italy khoảng 136,8% GDP, Pháp khoảng 116,5% GDP, Trung Quốc khoảng 96,3% GDP, trong khi Đức thấp hơn đáng kể, khoảng 64,4% GDP. Dù tỷ lệ nợ của Đức thấp hơn đáng kể so với nhiều nền kinh tế lớn, Bundesbank cảnh báo thâm hụt ngân sách của nước này có xu hướng tăng lên do nhu cầu chi tiêu lớn.
IMF cũng cảnh báo rằng, nếu các chính phủ không thận trọng trong chi tiêu và quản lý nợ, nợ công toàn cầu sẽ tạo ra áp lực lớn đối với ổn định tài chính quốc tế. Các rủi ro chính bao gồm lãi suất tăng, chi phí phục hồi nợ cao, khả năng khủng hoảng tài chính cục bộ, đặc biệt tại các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào vốn nước ngoài. Nợ cao cũng có thể hạn chế khả năng chi tiêu công, đầu tư hạ tầng và tác động đến thị trường vốn, M&A và dòng FDI toàn cầu.
Về lạm phát, theo báo cáo “Báo cáo triển vọng kinh tế” xuất bản tháng 9/2025 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), lạm phát tại các nền kinh tế G20 được dự báo giảm dần từ khoảng 3,4% trong năm 2025 xuống 2,9% năm 2026. Xu hướng hạ nhiệt này phản ánh sự bình ổn tương đối của giá năng lượng, chính sách tiền tệ thận trọng hơn và giảm bớt áp lực chi phí đầu vào trong các ngành công nghiệp trọng yếu. Tuy nhiên, áp lực lạm phát vẫn tồn tại tại một số nền kinh tế phát triển, đặc biệt ở Mỹ và châu Âu, do chi phí lao động cao; chuỗi cung ứng chưa hoàn toàn hồi phục; giá lương thực, năng lượng tăng cũng như nhiều rủi ro về chính sách tiền tệ và sự liên quan đến các cuộc chiến trên phạm vi toàn cầu.
Cấu trúc thương mại mới

Những cấu trúc mới của thương mại toàn cầu bắt đầu hình thành khi các chính phủ tái định hình lại các liên minh thương mại - Ảnh minh họa
Năm 2025 chứng kiến xu hướng đa dạng hóa và đa phương hóa trong thương mại toàn cầu ngày càng rõ nét. Những cấu trúc mới của thương mại toàn cầu bắt đầu hình thành khi các chính phủ tái định hình lại các liên minh thương mại, còn các công ty tìm kiếm các thị trường khác để tránh các mức thuế cao nhất của Mỹ. Các nền kinh tế nỗ lực thúc đẩy quan hệ thương mại hiện có cũng như hình thành liên minh mới.
Nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng, mang tầm chiến lược đã được ký kết và nhiều cuộc đàm thương mại được nối lại trong năm 2025. Trong số đó phải kế tới FTA Ấn Độ - Anh được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thương mại song phương tăng 34 tỷ USD/năm từ năm 2040, hay FTA giữa EU và Khối Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur) ký ngày 16/9 sẽ hình thành khu vực thương mại tự do nhiều hứa hẹn với 300 triệu dân và GDP hơn 4.300 tỷ USD. Trong khi đó, Nghị định thư nâng cấp ASEAN-Trung Quốc, ký ngày 28/10, tạo nền tảng thúc đẩy liên kết kinh tế, thương mại, đầu tư chất lượng cao. Tuy nhiên, xu hướng xoay sang các thỏa thuận song phương hay khu vực cũng mang đến không rủi ro nhỏ, đặc biệt là đối với các nền kinh tế quy mô nhỏ hơn.
Nguồn Kiểm Toán: http://baokiemtoan.vn/nhung-diem-nhan-noi-bat-kinh-te-the-gioi-nam-2025-45497.html













